Sign up

Tình yêu và thù hận.

hieuvanhiepduc | 05 January, 2012 03:09

TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN
(Trích Rô-mê-ô và Giu-li-et của Sếch-xpia)
I. Giới thiệu chung.
 1. Thời đại Phục hưng.
  - Thế kỉ XV và XVI ở châu Âu được gọi là thời đại Phục hưng.
  - Phục hưng là cuộc vận động tư tưởng văn hóa mới ở châu Âu (Cuộc vận động làm sống lại văn hóa Hi Lạp và La Mã cổ đại và phát huy nó trong thời đại mới).
 2. Chủ nghĩa nhân văn.
  - Là trào lưu tư tưởng đấu tranh cho tự do của con người, giải thoát con người ra khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến và nhà thờ.
 3. Tác giả Uy-li-am Sếch- xpia.
  a. Nước Anh đến với thời đại Phục hưng muộn hơn nước Ý, nước Pháp.
   - Văn học Anh phát triển mạnh mẽ.
  b.Uy-li-am Sếch- xpia.
  - Sinh ở thị trấn Stratford on Avon, miền Tây nước Anh trong một gia đình bình dân.
  - Ông đã từng làm nhiều nghề để kiếm sống (Giữ ngựa, người nhắc vở, diễn viên, nhà biên kịch, tác gia lớn).
  → Từ bóng tối cuộc đời Sếch- xpia vươn lên để chiếm đỉnh cao trong nghệ thuật.
  - Ông để lại gồm 37 vở kịch, gồm: Bi kịch, hài kịch, kịch lịch sử.
Tác phẩm của  Sếch- xpia là tiếng nói của lương tri tiến bộ, của khát vọng tự do, của lòng nhân ái, của niềm tin bất diệt vào khả năng hướng thiện, vươn lên để khẳng định quyền sống của con người.
  → Sếch- xpia là người khổng lồ của thời đại Phục hưng.
  4. Vở kịch  Rô- mê- ô và Giu- li- ét.
   - Tóm tắt (SGK).
II. Đọc hiểu đoạn trích.
 1. Tâm hồn đắm say của Rô-mê-ô.
  - Chàng đã bộc lộ tâm trạng đắm say trước vẻ đẹp của Giu-li-ét:
   + Rô-mê-ô chấp nhận sự nguy hại để đến với Giu-li-ét: “Kẻ chưa hề bị thương thì há sợ gì sẹo”.
   + Chàng ví Giu-li-ét như "Vầng mặt trời", Rô-mê-ô nói: “Vừng dương đẹp tươi ơi! Hãy hiện lên đi và giết chết ả hằng nga đố kị, héo hon và nhợt nhạt”.
   + Rô-mê-ô nói: “Nàng đang nói kìa, nhưng nàng có nói gì đâu: vậy là gì thế? Đôi mắt nàng lên tiếng”. Phải chăng đôi mắt lấp lánh khiến Rô-mê-ô ngỡ là đôi môi mấp máy. Rô-mê-ô đã cảm nhận đôi mắt Giu-li-ét rất đẹp.
   + Rô-mê-ô đã so sánh đôi mắt của Giu-li-ét đẹp như các vì sao “Chẳng qua là hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhờ mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về”. Ánh sáng long lanh, lấp lánh của các vì sao được dùng để so sánh với ánh sáng rực rỡ của ban ngày rọi khắp không gian: “Như ánh sáng ban ngày làm cho đèn nến phải thẹn thùng”.
  → So sánh dưới nhiều góc độ, chân thực thể hiện được tâm trạng đắm say của Rô-mê-ô trước vẻ đẹp của nàng Giu-li-ét.
   - Rô-mê-ô sử dụng các giả định: “Ừ nếu mắt nàng lên thay cho sao, và sao xuống nằm dưới đôi lông mày kia thì thế nào nhỉ”. Chi tiết này làm nổi bật đôi gò má rực rỡ của Giu-li-ét.
   - Rô-mê-ô thần tiên hoá vẻ đẹp của Giu-li-ét. Nàng hiện ra dưới đôi mắt của Rô-mê-ô như “Một nàng tiên lộng lẫy”, đang “Toả ánh hào quang” “Như một sứ giả nhà trời có cánh”.
  → Đối với Rô-mê-ô, Giu-li-ét là người thiếu nữ đẹp nhất.
   2. Diễn biến tâm trạng Giu-li-ét.
  - Giu-li-ét phân biệt được bản chất của sự việc.
   + "Chỉ có tên chàng là thù hận của em thôi".
  - Tình yêu của nàng hồn nhiên, trong trắng, bất chấp thù hận.
  - Vì yêu Rô-mê-ô nên nàng rất sợ người nhà bắt gặp chàng. Giu-li-ét đã nói với người mình yêu: “Em chẳng  đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây”.
 → Lời nói đó thể hiện tình yêu của Giu-li-ét đối với Rô-mê-ô. Lời đối thoại của hai nhân vật bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của hai người. Rô-mê-ô và Giu-li-ét có tình yêu nồng nàn, đắm say.
- Tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét đến từ hai phía nên có sức mạnh rất lớn. Tình yêu của họ vượt lên hận thù.
- Hình tượng bức tường đá.
   + Chỗ đứng của Rô-mê-ô là bức tường bao quanh nhà Giu-li-ét. Bức tường ấy kiên cố che chắn cho gia đình Ca-piu-lét. Gia đình ấy có thể đe dọa đến tính mạng của chàng.
   + Chỗ đứng của Giu-li-ét là cửa sổ căn phòng riêng của nàng, có bức tường che chở. Đó chính là bức tường ràng buộc của lễ giáo.
   + Không gian giữa họ cũng chênh vênh. Họ chỉ có thể nói về nhau và hướng về nhau mà không thể nào nắm tay nhau. Sự im lặng của không gian ẩn chứa mối thù hận của hai dòng họ. Khoảng cách do lòng thù hận đang rình rập họ. Nếu họ hàng nhà Cam-piu-lét bắt gặp Rô-mê-ô nơi đây thì chàng khó lòng thoát chết.
   + Thời gian rất ngắn ngủi, chỉ một đêm. Đêm tối tức là khoảnh khắc của tình yêu, che chở cho tình yêu. Ban ngày với họ là thù địch. Cho nên tình yêu giữa hai nhân vật này là một bi kịch.
 - Qua 16 lời thoại, xung đột được giải quyết:
   + Rô-mê-ô dũng cảm vượt qua thù hận. Giu-li-ét khẳng định tình yêu với Rô-mê-ô. Nàng chỉ băn khoăn không biết Rô-mê-ô có vượt qua được không. Rô-mê-ô đã giải tỏa được nỗi băn khoăn của Giu-li-ét. Điều này được chứng minh ở lời thoại 13: “Tôi vượt được tường này là nhờ đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu, mấy bức tường đá ngăn sao được tình yêu. Vậy người nhà em làm sao có thể ngăn nổi tôi”.
     → Tình yêu có sức mạnh nối kết con người với nhau, xoá đi thành kiến hay thù hận chia rẽ con người.
III. Tổng kết.
  1. Nội dung.
   - Đoạn trích đề cao tình yêu lứa đôi.
  2. Nghệ thuật.
  - Ngôn ngữ Sếch- xpia điêu luyện, sử dụng: “Lời nói có cánh”.

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

hieuvanhiepduc | 04 January, 2012 15:15

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
(Trích: Kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng)
I. Giới thiệu chung.
1. Tác giả.
 - Nguyễn Huy T­ưởng  sinh năm 1912 mất năm 1960.
 - Xuất thân trong một gia đình nhà nho ở  làng Dục Tứ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Nay là làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội)
 - Tham gia hội văn hoá cứu quốc do Đảng lãnh đạo, từng là đại biểu quốc dân dự đại hội Tân Trào.
 - Viết về đề tài lịch sử, có đóng góp lớn ở hai thể loại: Tiểu thuyết và kịch.
 - Tác phẩm tiêu biểu: Vũ Như­ Tô (1941), Luỹ hoa (1960), Sống mãi với thủ đô (1961).
2. Vở kịch Vũ Như­ Tô.
 a. Hoàn cảnh sáng tác.
 - Vở kịch được xây dựng dựa vào sự kiện có thật xảy ra ở Thăng long vào năm 1516 và 1517 dư­ới triều vua Lê Tương Dực.
 - Tác phẩm đư­ợc viết vào mùa hè năm 1941, đề tựa tháng 6 năm 1942, với mục đích nêu cao vai trò của ngư­ời nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật.
 b. Tóm tắt (SGK).
 c. Các mâu thuẫn trong vở kịch Vũ Nh­ư Tô.
 - Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân.
 - Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa  khát vọng nghệ thuật và thực tế xã hội, mâu thuẫn giữa người nghệ sĩ và nhân dân.
 - Hai mâu thuẫn này tác động lẫn nhau:
  + Vũ Như­ Tô tích cực xây dựng Cửu Trùng Đài. Việc làm này khiến cho mâu thuẫn thứ nhất gay gắt thêm. Bởi vì xây dựng Cửu Trùng Đài nhân dân phải đóng góp s­ưu cao, thuế nặng.
  + Mâu thẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa cuộc sống và nghệ thuật.
   Mâu thuẫn thứ nhất giải quyết bằng con đ­ường bạo lực của phe nổi loạn. Phe nổi loạn đã giết chết Lê Tư­ơng Dực.
   Mâu thuẫn thứ hai không thể giải quyết bằng con đường bạo lực. Mâu thuẫn này Nguyễn Huy T­ưởng ch­ưa giải quyết được.
  + Lời nói của Vũ Nh­ư Tô “Ta tội gì? Không! Ta chỉ có một hoài bão là tô điểm đất n­ước, đem hết tài ra xây cho giống nòi một đài hoa lệ… tranh tinh xảo với hoá công”.
  + Và lời tựa của Nguyễn Huy T­ưởng: “Chẳng biết Vũ Nh­ư Tô phải, hay những kẻ giết Vũ Nh­ư Tô phải, ta cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.
  → Đây là mâu thuẫn chưa giải quyết được. Đó là mâu thuẫn gi­ữa nghệ sĩ và nhân dân, giữa cái đẹp và cái thiện. Cái đẹp trong trư­ờng hợp Vũ Như­ Tô là “Cái đẹp cao cả và đẫm máu”, “Nó chảy máu trên thân hình quằn quại của cái thiện”. Mâu thuẫn thứ hai chỉ có thể giải quyết đ­ược khi đời sống tinh thần của nhân dân đư­ợc nâng cao.
II. Đọc hiểu đoạn trích.
 1. Nhân vật Vũ Như­ Tô.
  - Một kiến trúc sư tài giỏi.
    + Có thể sai khiến gạch ngói nh­ư  viên t­ướng cầm quân, có thể xây dựng đư­ợc những đài cao nóc với mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ.
 - Vũ Như­ Tô là một nghệ sĩ tài ba, khao khát sáng tạo cái đẹp.
 - Vũ Như­ Tô quá đam mê, đắm chìm trong sáng tạo nghệ thuật nên sống xa thực tế. Ông sáng suốt trong hoạt động nghệ thuật nhưng mê muội trong cuộc sống đời th­ường (Hồi 1,2,3,4).
 - Hồi 5 không diễn tả tài năng của Vũ Như­ Tô, đoạn trích diễn tả bi kịch của Vũ Như Tô. Diễn biến và chi tiết ở hồi V buộc Vũ Như­ Tô trả lời các câu hỏi:
   + Xây dựng Cửu Trùng Đài đúng hay sai?
   + Người xây được Cửu Trùng Đài có công hay có tội?
  - Vũ Như­ Tô không trả lời đư­ợc các câu hỏi đó. Vì Vũ Nh­ư Tô chỉ đứng trên lập trư­ờng của người nghệ sĩ, không đứng trên lập tr­ường của nhân dân. Đứng trên lập tr­ường của cái đẹp mà không đứng trên lập trư­ờng của cái thiện.
  - Diễn biến tâm lí của Vũ Như­ Tô khi vỡ mộng:
   + Vũ Nh­ư Tô vẫn còn mơ màng, tin vào vào việc làm của mình là đúng.
   + Vũ Như­ Tô không nghĩ rằng việc làm của mình là tội ác, không thể tin việc quang minh chính đại của mình lại bị rẻ rúng, bị nghi ngờ.
  (Cho nên Đan Thiềm giục Vũ Như­ Tô chạy trốn, Vũ Như­ Tô không chạy trốn mà ông thể hiện lập trư­ờng của mình: “Bà không nên lo cho tôi. Tôi không trốn đâu. Ngư­ời quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết cũng để cho mọi ng­ười biết công việc mình làm là chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một b­ước. Hồn tôi để cả ở đây thì tôi chạy đi đâu?”).
 - Khi vỡ mộng, bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, Vũ Nh­ư Tô mới nhận thấy thất bại. Ông rất đau đớn.  Nỗi đau ấy bật thành tiếng than bi thiết, não nùng “Ôi ! Mộng lớn, ôi Đan Thiềm, ôi Cửu Trùng Đài” . Ông đành bất lực cam chịu “Thôi thế là hết. Dẫn ta đến pháp trư­ờng”. Ước mơ cao đẹp, độc giả, công trình nghệ thuật, cả ba đã mất, người nghệ sĩ sáng tạo chịu nỗi đau đớn tột cùng.
2. Nhân vật Đan Thiềm.
  - Đan Thiềm là ng­ười nghệ sĩ biết thưởng thức nghệ thuật. Đan Thiềm có thể quên bản thân vì niềm đam mê đó.
  - Diễn biến tâm lí của Đan Thiềm khi vỡ mộng:
   + Đan Thiềm không bận tâm đến việc xây dựng Cửu Trùng Đài, Đan Thiềm chỉ quan tâm đến sự sống còn của Vũ Như­ Tô.
(Nhiều lần cô khuyên Vũ Như­ Tô trốn: Đan Thiềm “Hớt hơ hớt hải”, “Mặt cắt không còn giọt máu”. Giọng nói của Đan Thiềm “Hổn hển” đứt đoạn, những tiếng “Trốn đi”, “Lánh đi”, “Chạy đi”, càng nói vẻ mặt hốt hoảng, đau đớn).
  + Ngay cả lúc bị bắt, bị sỉ nhục, Đan Thiền vẫn cầu xin: “Tư­ớng quân nghe tôi bao nhiêu tội tôi xin chịu hết như­ng t­ướng quân tha cho ông cả. Ông ấy là một ngư­ời tài”.
  + Khi tình thế không thể cứu vãn đư­ợc, Đan Thiềm đành nói lời vĩnh biệt: “Đài lớn tan tành, ông cả ơi! Xin cùng vĩnh biệt”.
  → Đan Thiềm là người biết trân trọng cái tài.
3. Nghệ thuật của đoạn trích.
 - Miêu tả diễn biến tâm trạng Vũ Như­ Tô và Đan Thiềm.
 - Khắc hoạ tính cách nhân vật (Vũ Như­ Tô, Đan Thiềm, Ngô Hạch, Nguyễn Vũ). Ngô Hạch đại diện cho quân phản loạn chống lại triều đình, Nguyễn Vũ là kẻ ngu trung... mỗi ng­ười một vẻ.
 - Kịch tính đư­ợc tạo ra qua đối thoại, hành động của nhân vật. Ngôn ngữ tổng hợp (Kể, miêu tả, bộc lộ ) đã tạo nên xung đột kịch gay gắt: Lê Tương Dực bị Ngô Hạch giết, hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn. Nguyễn Vũ tự tử, Vũ Như­ Tô ra pháp tr­ường.
III. Tổng kết.
  - Qua tấn bi kịch của Vũ Như­ Tô, Nguyễn Huy Tưởng đặt ra vấn đề sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, về mối quan hệ giữa lí tư­ởng nghệ thuật cao siêu với lợi ích thiết thực của nhân dân.
  - Đoạn trích thể hiện nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tư­ởng: Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. Hành động của nhân vật thể hiện tính cách, diễn tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

Thắng cảnh Hòn Kẽm- Đá Dừng.

hieuvanhiepduc | 17 December, 2011 15:34

alt
THẮNG CẢNH HÒN KẼM- ĐÁ DỪNG
1, Vị trí của thắng cảnh.
  Thắng cảnh Hòn Kẽm- Đá Dừng nằm ở thượng nguồn sông Thu Bồn, thuộc thôn 2 và thôn 3 xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Địa danh này cách thị trấn Tân An 14 km về phía Tây Bắc.
2, Vẻ đẹp huyền bí.
  Hòn Kẽm- Đá Dừng là hai ngọn núi đá nhô ra trên dòng sông Thu Bồn. Tên gọi của địa danh này gồm có bốn từ "Hòn Kẽm- Đá Dừng". Từ “Kẽm” trong cụm từ “Hòn Kẽm” có nghĩa là khe giữa hai vách đá. “Dừng” trong cụm từ “Đá Dừng” không có nghĩa là ngưng. Dừng theo cách phát âm của người Quảng có nghĩa là dựng, đá dựng thành vách. Hai vách đá dựng hai bên bờ sông đã làm cho dòng sông Thu Bồn hẹp lại. Vào mùa lũ, nước ở đầu nguồn tràn về. Đến Hòn Kẽm, do dòng sông hẹp nên dòng nước bị chặn lại. Nước dâng gây nên lụt cục bộ ở thượng nguồn. Người dân Hiệp Đức quê tôi vẫn còn kinh hoàng trận lụt năm Thìn (1964). Trận lụt lớn chưa từng có đó đã làm rất nhiều người chết. Sông cũng như người, có lúc giận dữ có lúc hiền hòa. Đến Hòn Kẽm vào mùa hè du khách sẽ cảm nhận được vẻ đẹp kì thú của cảnh vật nơi đây. Những phiến đá được bàn tay của tạo hoá nắn gọt tạo thành những hình dáng kỳ bí, ẩn mình bên dòng sông Thu. Những hình thù cổ kính cùng với sông nước, cây rừng, sương mù, nắng ấm hoà quyện với nhau. Tạo thành bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Mùa hè nước cạn, bơi thuyền trên Hòn Kẽm, du khách sẽ thấy những dòng chữ Chiêm Thành được khắc trên hai phiến đá lớn. Có nhiều cách giải thích khác nhau về những dòng chữ tượng hình này. Có ý kiến cho rằng đó là những dòng chữ do người Chàm khắc để đánh dấu nơi cất giữ kho báu. Có ý kiến cho rằng những dòng chữ kì bí đó là câu bùa chú được cha ông ta khắc để trị thủy. Ý kiến khác cho rằng những đường nét ở hai phiến đá chỉ là những dấu vết do thiên nhiên vô tình tạo ra. Sẽ có nhiều cách lí giải khác nhau, thiên nhiên huyền bí đang mời gọi con người đến để khám phá. Đến Hòn Kẽm du khách sẽ được ghé thăm và nghe kể những câu chuyện huyền thoại gắn liền với các địa danh Miếu Ba Hang, ghềnh Nước Mắt, hòn Đá Bùa, khe Nghiêng.
3, Câu ca thấm đượm nghĩa tình.
  Hòn Kẽm gắn với câu ca: “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!/Thương cha nhớ mẹ thì về/Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng”.
  Nhà phê bình văn học Đặng Tiến cho rằng câu ca là nỗi lòng của người nghĩa quân trong phong trào Nghĩa hội. Người con trai xứ Quảng từ biệt gia đình lên vùng đất xa xôi này lập căn cứ chống giặc ngoại xâm. Đất trời bao la, hiu quạnh khiến người chiến binh chạnh lòng thương cha, nhớ mẹ. Ngoài nỗi nhớ các bậc sinh thành anh lính còn nhớ vợ con, nhớ bạn bè. Tình nhà sâu nặng nhưng vì việc nước anh lính phải ra đi. Khi xa nhà, người lính lại da diết nhớ người thân: "Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi?". Trong tâm trạng người con trai thời chiến có sự giằng xé giữa nợ nước và tình nhà. Biết hi sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích của tổ quốc đó là một nghĩa cử cao đẹp.
   Cũng có ý kiến lí giải rằng câu ca là lời người vợ ở quê nhà. Người vợ khuyên chồng nên dốc lòng đuổi giặc ngoại xâm, đừng vì bậu mà về, cha mẹ ở nhà đã có bậu lo liệu. Nếu câu ca là lời người vợ. Lời ca đó đến với người ra trận sẽ tạo nên sức mạnh rất lớn. Sự đảm đang, kiên trung của người ở lại đã tạo thêm sức mạnh để người ra đi đánh thắng kẻ thù.
  Ý kiến khác lại cho rằng câu ca là lời của cô gái. Cô gái miềm xuôi có chồng ở mạn ngược. Xa quê nên cô gái nhớ quê. Chồng cô gái khuyên cô rằng: “Thương cha nhớ mẹ thì về/Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng”. "Đừng" có nghĩa là đừng về vì nơi đây cảnh rất đẹp. Cũng có thể chàng trai không muốn cô gái về thăm quê vì sợ cô gái gặp lại người cũ. Lòng người biết đâu mà lường?
  Có người lại bảo câu ca là lời cha mẹ khuyên con. Cha khuyên con hãy yên chí mưu sinh nơi đất khách đừng trở về quê hương. Vì Quảng Nam là vùng đất khắc nghiệt, là nơi không đãi người bản địa. Ý kiến này không hợp lí. Cha mẹ nào lại muốn xa con. Khi trẻ thơ ru con bằng câu ca. Đến khi con lớn khôn, cũng muốn câu ca đưa con về với gia đình. Dù cực khổ nhưng cha mẹ vẫn mong được gần con.
  Tùy theo hoàn cảnh lịch sử, câu ca mang những ý nghĩa khác nhau. Người Quảng sống đề cao tình nghĩa. Mẹ ru con muốn gởi tình cảm của mình đến với con qua câu ca. Hai người yêu nhau muốn mượn câu ca để nói lên nỗi nhớ thương của mình đối với người yêu. Người con trai xa nhà muốn thể tình cảm với gia đình, với quê hương qua câu ca. Một câu ca nhưng thấm đượm biết bao nghĩa tình.
4, Cách đến Hòn Kẽm.
  Đến Hòn Kẽm có thể bằng đường thủy hoặc đường bộ. Đi đường thủy, xuất phát từ Hội An ngược sông Thu Bồn lên Hòn Kẽm. Bằng đường bộ, đi từ Hương An qua đèo Le (Quế Sơn), dừng ở chợ Trung Phước (Nông Sơn), sau đó thuê thuyền máy đến Hòn Kẽm. Du khách cũng có thể đi từ Tân An, qua cầu Vực Giang (Hiệp Thuận), đến Trà Linh (Hiệp Hoà) rồi thuê Ca-nô xuống Hòn Kẽm.
5. Lời kết.
  Hòn Kẽm- Đá Dừng là một thắng cảnh của vùng đất Hiệp Đức quê tôi. Thiên nhiên kì bí, câu ca giàu tình nghĩa sẽ làm mê hoặc lòng người.
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
 NVH.

Chợ Việt An.

hieuvanhiepduc | 17 December, 2011 04:48

                              CHỢ VIỆT AN
   Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Công trình nghiên cứu về lĩnh vực địa lí này được khởi biên vào triều vua Tự Đức. Bộ sách gồm 28 tập, 31 quyển, mỗi quyển viết về một tỉnh. Trong cuốn viết về Quảng Nam, ở mục chợ quán ghi Quảng Nam có 32 chợ. Trong 32 chợ có tên chợ Việt An. Sách ghi Chợ Việt An ở huyện Lễ Dương (Nay là huyện Thăng Bình, sau khi tái lập tỉnh, chia tách huyện, Việt An thuộc về huyện Hiệp Đức). Bộ sách này được chỉnh sửa vào năm 1909 thời Duy Tân. Quyển 5 viết về Quảng Nam. Ở mục chợ quán ghi Quảng Nam có 63 chợ. Sách ghi rõ hạng thuế của mỗi chợ. Lúc bấy giờ ngạch thuế chợ chia làm chín hạng. Chợ có ngạch thuế hạng nhất là chợ Vạn ở Tam Kỳ. Chợ Được ở xã Phước Ấm (Thăng Bình) hạng hai. Chợ Chùa ở thôn Phụng Châu Tây thuộc huyện Duy Xuyên hạng ba. Ngạch thuế hạng bốn có chợ chợ Cẩm Sa (Điện Bàn), chợ Bàn Thạch (Duy Xuyên), chợ Quán Rường ở xã Mỹ An huyện Hà Đông (Nay là huyện Phú Ninh) và chợ Việt An. Chợ Việt An thuộc ngạch thuế hạng bốn ngang với chợ Bàn Thạch. Như vậy Việt An là một chợ quán lớn của tỉnh Quảng Nam.
  Chợ Việt An nằm ở xã Bình Lâm, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Địa danh này đã đi vào câu hát ru: "Bồng con mà bỏ vô nôi/Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/Mua cau Đông Phú,mua trầu Việt An". Câu ca chan chứa tình thương. Những người chưa đến Việt An biết đến địa danh này qua câu ca. Những sản phẩm đặc trưng của miền núi như quế, hồ tiêu, sa nhơn từ chợ Việt An được trao đổi, giao lưu đi khắp các vùng miền của đất nước. 
  Chợ Việt An có từ 150 năm trước, là một nơi buôn bán, giao thương giữa người miền xuôi và người miền ngược. Sự cổ xưa của chợ đã góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa của xứ Quảng quê tôi. 
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
NVH.

Phương pháp dựng đoạn văn.

hieuvanhiepduc | 17 December, 2011 03:22

PHƯƠNG PHÁP DỰNG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
I, Khái niệm đoạn văn.
1, Về nội dung.
  Đoạn văn diễn đạt tương đối trọn vẹn một ý.
2, Về hình thức.
Đoạn văn là phần văn bản:
  + Bắt đầu từ chữ viết hoa lùi vào đầu dòng.
  + Kết thúc là một dấu chấm xuống dòng.
  + Đoạn có một hoặc do nhiều câu liên kết tạo thành.
3, Các câu trong văn bản.
  a, Câu mở đoạn.
   Là câu nêu vấn đề.
  b, Câu khai triển đoạn.
   Là câu phát triển ý được nêu ở câu mở đoạn.
  c, Câu kết đoạn.
   Là câu khép lại vấn đề.
  d, Câu chủ đề.
   Là câu mang ý chính của toàn đoạn. Vị trí của câu chủ đề tùy thuộc vào kết cấu của đoạn.
II, Đoạn nghị luận.
1, Khái niệm.
  Đoạn văn nghị là một phần của văn bản nghị luận.
  Văn bản nghị luận là văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc (Người nghe) một tư tưởng, một quan điểm.
2, Các yếu tố chính trong bài văn nghị luận.
  Muốn xây dựng bài văn nghị luận cần phải xác lập các yếu tố:
  a, Luận điểm.
   Là ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng trong bài văn nghị luận.
  b, Luận cứ.
   Là căn cứ để xây dựng luận điểm.
  c, Luận chứng.
   Là chứng cứ minh họa cho luận cứ, luận điểm.
  d, Lập luận.
   Là cách lựa chọn, sắp các luận cứ để dẫn đến luận điểm.
3, Một số cách lập luận trong bài văn nghị luận.
  a, Đoạn diễn dịch.
  a1, Khái niệm.
   Diễn dịch là phương pháp trình bày ý từ luận điểm suy ra các luận cứ (Từ ý tổng quát suy ra ý cụ thể).
  a2, Sơ đồ lập luận.
  a3, Ví dụ minh họa.
     Tham nhũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Châu Á (1). Mới đây chính phủ Hàn Quốc bắt giam hai cựu bộ trưởng Bộ quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la (2). Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó (3). Cũng do tham nhũng, đảng dân chủ tự do cầm quyền ở Nhật Bản đã mất đa số ghế tại hạ viện (4).
(Báo Tuổi trẻ, số ngày 05/08/1993)
b, Đoạn quy nạp.
  b1, Khái niệm.
   Quy nạp là phương pháp trình bày ý từ các luận cứ rút ra những nhận định tổng quát, rút ra luận điểm (Từ các ý cụ thể rút ra nhận định chung).
b2, Sơ đồ lập luận.
b3, Ví dụ minh họa.
     Tại Nhật Bản, do tham nhũng Đảng tự do cầm quyền đã mất đa số ghế tại hạ viện (1). Mới đây chính phủ Hàn Quốc đã bắt giam hai cựu bộ trưởng Bộ quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la (2). Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó (3). Tham nhũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Châu Á (4).
c, Đoạn song hành.
  c1, Khái niệm.
   Song hành là cách lập luận trình bày ý giữa các câu ngang nhau (Các câu đều là luận cứ). Luận điểm được rút ra từ việc tổng hợp các ý của luận cứ (Đoạn song hành có câu chủ đề ẩn).
c2, Mô hình lập luận.
 c3, Ví dụ minh họa.
     Phan Tòng cầm quân rồi hy sinh, đầu còn đội khăn tang (1). Hồ Huân Nghiệp lúc sắp bị hành hình mới có thì giờ nghĩ đến mẹ già (2). Phan Đình Phùng đành nuốt giận khi biết giặc và tay sai đốt nhà, đào mả và khủng bố gia đình thân thuộc của mình (3). Cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ gánh gia đình rất nặng mà Cao Thắng cứ bỏ đi cứu nước rồi chết (4).
(Lịch sử văn học Việt Nam)
Câu chủ đề ẩn: Lòng yêu nước của dân tộc ta.
d, Đoạn tổng- phân- hợp.
  d1, Khái niệm.
   Đoạn tổng- phân- hợp là đoạn nghị luận có cách triển khai ý từ luận điểm suy ra các luận cứ, rồi từ các luận cứ khẳng định lại luận điểm. Qua mỗi bước vấn đề được nâng cao hơn.
  d2, Mô hình lập luận.
   - Mẫu đoạn hỗn hợp liên tục (Gồm có nhiều câu và nhiều kiểu quan hệ ý nghĩa kết hợp với nhau không theo trật tự).
  d3, Ví dụ minh họa 1.
      Tiếng Việt chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều khó nói (1). Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹph như thế nào, cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên (2). Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn (3). Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp, bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp (4). (Phạm Văn Đồng)
      - Mẫu đoạn hỗn hợp gián đoạn.
    Ví dụ minh họa 2.
        Trước hết, ta có thể chia từ tiếng Việt thành hai bộ phận khác nhau: Những từ tình thái và những từ phi tình thái (1). Những từ tình thái là những từ không có ý nghĩa từ vựng cũng không có ý nghĩa ngữ pháp, không có quan hệ ngữ pháp với bất cứ từ nào trong câu (2). Ví dụ: Ôi chao, eo ôi, à, a, cơ mà...vv (3). Những từ phi tình thái là những từ có ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp nhất định, có quan hệ ngữ pháp với các từ khác trong cụm từ (4). Ví dụ: Học, học trò, nó, với...vv (5).
        Phân tích: Câu 1 là câu mở đoạn cũng là câu chủ đề. Câu 2 là câu định nghĩa từ tình thái. Câu 3 là câu nêu ví dụ từ tình thái. Câu 4 là câu định nghĩa từ phi tình thái, câu này không có quan hệ ý nghĩa với câu 3 đứng trước nó, câu này có quan hệ song hành với câu 2. Câu 5 nêu định nghĩa từ phi tình thái.
e, Đoạn móc xích.
  e1, Khái niệm.
    Triển khai ý bằng cách câu sau kế thừa và phát triển ý câu trước, luận cứ của câu trước tạo tiền đề cho sự phát triển ý của câu sau và cứ như thế đến hết đoạn.
  e2, Sơ đồ lập luận.
  e3, Ví dụ minh họa.
      Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất (1). Muốn tăng gia sản xuất thì phải có kĩ thuật tiên tiến (2). Muốn sử dụng kĩ thuật thì phải có văn hóa (3). Vậy việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết (4). (Hồ Chí Minh)
III. Kết luận.
 Rèn luyện, viết được đoạn văn hay sẽ viết được bài văn hay.

Đồng dao.

hieuvanhiepduc | 17 December, 2011 01:45

           ĐỒNG DAO
I. Khái niệm.
    Đồng dao là lời thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam.  Mỗi khi hát có thể kết hợp với trò chơi hoặc không có trò chơi.
II. Phân loại đồng dao.
    Đồng dao Việt Nam gồm có các loại:
  - Đồng dao trẻ em hát- trẻ em chơi.
  - Đồng dao hát ru.
  - Đồng dao trẻ em đố vui.
  - Ca dao cho trẻ em.
  - Vè cho trẻ.
 Đồng dao Việt Nam gồm nhiều loại. Ranh giới phân biệt giữa các loại chỉ tương đối.
III. Đặc trưng và chức năng của đồng dao.
  1. Đặc trưng.
     Đồng dao là những câu nói có vần, có điệu, dễ nhớ.
  2. Chức năng.
    Đồng dao là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian. Đồng dao còn là những kho tư liệu quý dùng để bồi dưỡng kiến thức cho lớp trẻ. Ngày xưa, người bình dân không được học hành, không có trường lớp dành cho những người nghèo khổ. Để ghi lại những nhận thức về cuộc sống, để giáo dục thế hệ trẻ, cha ông ta đã sáng tạo ra kho tàng văn hóa dân gian. Kiến thức trong các bài đồng dao, trong ca dao, trong tục ngữ, trong các câu chuyện cổ tích được truyền đến thế hệ trẻ bằng con đường truyền miệng. Nhờ vậy mà cha ông ta đã dạy cho rất nhiều thế hệ trẻ em trưởng thành, có kiến thức, biết quan sát, biết yêu thương.  
     Kiến thức trong đồng dao rất phong phú. Đồng dao cung cấp cho các em kiến thức về xã hội. Đồng dao ghi lại một cách chân thực các lễ hội dân gian, những đình đám trong họ ngoài làng. Những đồ ăn, thức uống gắn liền với các sinh hoạt văn hóa đó cũng được diễn tả rất sinh động. Đồng dao giúp các em chuẩn bị từ tuổi hoa niên những kiến thức về nghề nghiệp: “Ông thầy có sách, thợ ngạnh có dao, thợ rèn có búa”. Đồng dao cũng dạy các em phê phán thói hư, tật xấu: “Một ông đái bậy/Chết một còn bảy/Một ông láu táu/Chết một còn sáu". Các em bé gái được đồng dao trang bị cho kiến thức về nữ công: “Canh ốc thì ngọt/Canh bứa thì chua”.
    Đồng dao cung cấp cho các em kiến thức về thế giới tự nhiên. Thế giới thiên nhiên trong đồng dao sinh động, phong phú tràn đầy sức sống. Trong đồng dao có ông Sấm, ông Chớp, có chị Mưa, chị Gió. Trong đồng dao có hình ảnh của những con vật: Con trâu, con nghé, con voi, con ve, con kiến, con tôm, con tép, con còng, con cua. Tất cả đều có hồn, biết trò chuyện, biết tâm sự cùng trẻ em. Nhiều tưởng tượng bất ngờ của đồng dao đã giúp các em có được một cuộc sống hồn nhiên, gắn bó, gần gũi với cảnh vật, với con người xung quanh.
    Đồng dao và trò chơi dân gian không dạy chữ cho trẻ thế nhưng các em vẫn biết đếm, vẫn biết tính nhẩm, biết cộng trừ từ “Chuyền một” đến “Chuyền chuyền mười”, từ “Năm lên sáu” hay “Bốn lên bảy” trong trò chơi Chuyền chuyền. Trò chơi “Ô ăn quan” dạy trẻ em tính nhẩm các phép tính như chia, trừ, biết quan sát chiều ngược, chiều xuôi.
    Trò chơi dân gian còn giáo dục thể lực cho trẻ. “Đánh chuyền”. Trò “Đánh khăng” là môn thể thao rèn luyện sự vận động toàn diện  bằng các hoạt động chạy, nhảy, đuổi bắt, cõng nhau. Quan sát kỹ ta thường thấy các trò chơi thường lặp đi lặp lại. Người lớn xem hay chơi có thể chán, nhưng với trẻ em lặp lại là việc thú vị. Cùng một trò “Đuổi bắt” nhưng được các em biến hóa thành nhiều cách chơi. Qua trò chơi, các em được dịp rèn luyện mắt, rèn luyện chân tay, rèn luyện thính giác, rèn luyện khướu giác. Đồng dao và trò chơi dân gian như những chất keo kết dính tình bạn trong sáng, ngây thơ giữa trẻ em với trẻ em.
      IV. Kết luận.
     Đồng dao nằm trong kho tàng văn hóa dân gian, có nội dung trong sáng, lành mạnh. Giáo dục trẻ qua đồng dao sẽ mang lại hiệu quả cao.

Hạnh phúc của một tang gia.

hieuvanhiepduc | 16 December, 2011 09:25

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA
(Trích: “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng)
I. Giới thiệu chung.
1. Tác giả.
 a. Cuộc đời.
 - Vũ Trọng Phụng quê ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Sinh ra và sống ở Hà Nội.
 - Mồ côi cha từ nhỏ,  Vũ Trọng Phụng học hết bậc tiểu học, ông đi làm để kiếm sống (Làm thư ký, bán hàng, đánh máy chữ ở nhà in). Bị sa thải, Vũ Trọng Phụng chuyển sang viết báo, viết văn. Ông mất khi 27 tuổi.
 - Quan điểm chủ đạo trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng là: Phản đối sự tàn bạo, bất công của xã hội thực dân phong kiến.
 b. Sự nghiệp văn chương.
 - Vũ Trọng Phụng sáng tác thành công ở nhiều thể loại: Truyện ngắn, kịch nói, phê bình, phóng sự, tiểu thuyết.
 - Tác phẩm chính:
  + Phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937).
  + Tiểu thuyết: Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938).
  + Kịch: Không một tiếng vang (1931).
  + Truyện ngắn: Tập truyện "Cái ghen đàn ông".
 - Vũ Trọng Phụng là cây bút hiện thưc tiêu biểu. “Là nhà văn tả chân” (Vũ Ngọc Phan).
 - Vũ Trọng Phụng thành công ở lĩnh vực phóng sự. Ông được mệnh danh: “Ông vua phóng sự đất Bắc” (Phùng Tất Đắc).
 c. Phong cách.
 - Văn Vũ Trọng Phụng giọng điệu hài hước, mỉa mai, cay nghiệt.
2. Tiểu thuyết “Số đỏ”.
 a. Tóm tắt.
  - Tác phẩm gồm 20 chương, kể về sự may mắn của Xuân Tóc Đỏ. Câu chuyện bắt đầu khi bà Phó Đoan đến chơi ở sân quần vợt nơi Xuân làm việc. Xuân rình xem cô đầm thay đồ nên bị cảnh sát bắt giam. Ấn tượng trước thói dâm ô của Xuân, bà Phó Đoan đã bảo lãnh hắn ra tù. Bà đưa hắn về nhà. Đến nhà bà Phó Đoan, Xuân không hiểu ý đồ dâm đãng của bà Phó. Hắn bị bà Phó chuyển tới tiệm may Âu Hóa. Đến tiệm may Âu Hóa Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách xã hội. Nhờ thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc lậu, hắn được vợ chồng Văn Minh gọi là "Sinh viên trường thuốc", "Đốc tờ Xuân". Xuân có sự thăng tiến rất nhanh. Hắn gia nhập xã hội thượng lưu. Quen với những người giàu và có thế lực. Hắn quyến rũ được cô Tuyết, phát hiện cô Hoàng Hôn ngoại tình. Hắn còn được bà Phó đoan nhờ dạy dỗ cho cậu Phước. Hắn được nhà sư tăng Phú mời làm cố vấn cho báo Gõ Mõ. Xuân gây ra cái chết của cụ cố tổ nên được mọi người mang ơn. Văn Minh chồng dẫn Xuân đi xóa bỏ lí lịch trước kia để đăng kí tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì. Bằng thủ đoạn xảo trá, Xuân làm hai vận động viên quán quân bị bắt. Hắn được dịp tranh tài với quán quân Xiêm. Để giữ tình ban giao giữa hai nước, hắn được lệnh phải thua. Thua tài tử Xiêm La, Xuân bị đám đông phản đối. Hắn hùng hồn diễn thuyết cho đám đông dân chúng hiểu hành động "Hi sinh vì tổ quốc của mình". Hắn được mời vào hội Khai trí tiến đức, được nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh, được ngợi ca là anh hùng cứu quốc. Cụ cố Hồng hứa gả Tuyết cho hắn.
 b. Giá trị của tác phẩm.
  - Giá trị nội dung: Tác phẩm phê phán lối sống nhố nhăng, đồi bại của tầng lớp tư sản trong xã hội Việt Nam trước cách mạng.
  - Giá trị nghệ thuật: Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật Vũ Trọng Phụng tạo được tiếng cười mỉa mai.
II. Đọc hiểu đoạn trích.
 1. Vị trí đoạn trích.
  - Hạnh phúc của một tang gia được trích từ chương XV trong tiểu thuyết Số đỏ.
  - Đoạn trích kể về cái chết và đám ma của cụ cố tổ.
  - Trước đó, chương XIII, kể lại sự việc: Vô tình  Xuân Tóc Đỏ gây ra cái chết của cụ cố tổ. Ông Phán mọc sừng, chồng cô Hoàng Hôn yêu cầu Xuân nói với ông câu: “Thưa ngài, ngài là người chồng mọc sừng”. Ông Phán trả Xuân mười đồng, ông đưa trước cho Xuân năm đồng. Xuân không hiểu mục đích của ông Phán. Tại nhà cụ cố Hồng, trước đông đủ các thành viên trong gia đình cụ cố, Xuân đã nói câu đó. Câu nói của Xuân khiến cụ cố tổ uất hận vì xấu hổ, cụ bất tỉnh. Trước tình huống bất ngờ Xuân bỏ chạy như thằng ăn cắp.
 2. Đọc.
 3. Bức tranh xã hội buổi giao thời.
  a. Nhan đề đoạn trích.
  - Nhan đề đoạn trích được kết hợp giữa hai cụm từ “Hạnh phúc” và “Tang gia”. Hai cụm từ đó diễn tả những cảm xúc trái ngược nhau.
  + Tang gia là nhà có tang. Người có người thân chết thường đau khổ.
  + Hạnh phúc là từ diễn tả trạng thái cảm xúc vui vẻ, sung sướng.
 - Nhan đề có sự mâu thuẫn. Nghe phi lí nhưng đặt trong văn cảnh lại hợp lí. Sự mâu thuẫn đó tạo nên tiếng cười. Tiếng cười làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.
 b. Hạnh phúc của một tang gia.
  Hạnh phúc của những thành viên trong gia đình:
  b1. Cố Hồng (Con trai cả):
   + Được mặc đồ xô gai.
   + Được khen gợi: Khen gợi con trai của chết đã lớn, khen gợi đám ma to, khen gợi cây gậy quý. “Cụ cố Hồng nhắm nghiền mắt lại để mường tượng đến cái lúc được mặc quần xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: "Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!".
  → Cụ cố Hồng là người thích khoe khoang, không có tình cảm.
 b2. Ông Phán mọc sừng (Chồng cô Hoàng Hôn, cháu rể):
   + Thấy được giá trị của đôi sừng hươu vô hình trên đầu là vài nghìn đồng.
  → Là người coi trọng giá trị đồng tiền hơn danh dự.
 b3. Văn Minh chồng (Cháu nội ):
   + Thích thú vì cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành chứ không còn trên lý thuyết viễn vông nữa.
   + Băn khoăn vì không biết xử lí với Xuân Tóc Đỏ như thế nào: Xuân Tóc Đỏ có hai cái tội nhỏ. Tội thứ nhất quyến rủ cô Tuyết. Tội thứ hai tố cáo tội hoang dâm của cô Hoàng Hôn. Một cái ơn to, đó là gây ra cái chết của cụ già đáng chết. Văn Minh chồng không biết xử lí như thế nào với Xuân Tóc Đỏ. Thành ra bộ mặt lúc nào cũng đăm đăm chiêu chiêu. Hợp với khuôn mặt của người có đám tang: “Hợp thời trang”.
  → Những người trong gia đình cụ cố Hồng sống giả dối, thích phô trương.
  - Hạnh phúc của phái trẻ:
 b4. Văn Minh vợ (Cháu dâu):
   + Được mặc đồ xô gai tân thời.
   + Được đội cái mũ mấn viền đen.
 b5. Cậu Tú Tân:
   + Được chụp ảnh.
 b6. Ông typn.
   + Được lăng- xê những mốt mới.
 b7. Cô Tuyết:
   + Được mặc bộ y phục ngây thơ để chứng tỏ mình còn trong trắng.
  → Phái trẻ cũng thích phô trương, cũng sống giả dối.
 - Niềm vui của những người ngoài gia đình:
  b8. Hai viên cảnh sát:
   + Sung sướng cực điểm vì đang thất nghiệp được thuê dẹp trật tự cho đám đông.
  b9. Những ông bạn thân cụ cố Hồng:
   + Có dịp khoe huân, huy chương.
   + Khoe các kiểu râu ria
 b10. Đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch.
   + Có dịp tụ tập để khoe khoang, hẹn hò, tán tỉnh, bình phẩm, chê bai nhau.
 - Mọi người vui vẻ, hạnh phúc trước cái chết của cụ cố Tổ. Điều đó biểu hiện sự suy đồi về đạo lý, sự tha hoá về nhân cách con người.
 c. Nghệ thuật xây dựng đám đông.
  - Những chi tiết diễn tả đám đông: "Huyên náo", "Nhốn nháo", "Rộn lên", "Đủ trai thanh gái lịch”, "Chim nhau, cười tình với nhau".
   Để tạo dựng cảnh đám tang Vũ Trọng Phụng dùng các biện pháp nghệ thuật:
  - Biện pháp đối lập:
   + Bề ngoài: Đau khổ. Bên trong: Vui sướng.
   + Nội dung: Đám ma. Hình thức: Đám cưới.
  - Biện pháp liệt kê:
   + Kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu.
  Sự phối hợp những nhạc cụ đó tạo nên giai điệu vui nhộn. Đám ma mà giai điệu vui như đám cưới. Mọi người thi nhau chụp ảnh như hội chợ, tràn ngập vòng hoa, câu đối, đầy đủ các mốt quần áo, các kiểu râu ria.
   - Dùng lời thoại:
   + Người đi đưa tang mà mải trò chuyện về nhà cửa, vợ chồng, con cái, bình phẩm, chê bai, tình tự, chim chuột, hẹn hò nhau bằng cái vẻ mặt buồn buồn lãng mạn của những người đi đưa đám.
  - Dùng phép điệp:
   + Đám cứ đi.
  - Xuân Tóc Đỏ:
   + Xuất hiện đúng lúc mọi người mong đợi nhất.
   + Sự có mặt của Xuân làm cho đám ma thêm long trọng.
  - Xuân Tóc Đỏ là kẻ cơ hội.
  - Đám tang diễn ra như một tấn hài kịch. Bộc lộ sự suy thoái về đạo đức của giới thượng lưu trí thức trước cách mạng.
III. Tổng kết.
 1. Nội dung.
  - Thông qua đoạn trích, tác giả tố cáo mạnh mẽ sự  lố bịch, nhố nhăng, kệch cỡm của tầng lớp tư sản trong xã hội đương thời.
2. Nghệ thuật.
  - Bằng nghệ thuật trào phúng, Vũ Trọng Phụng xây dựng thành công chân dung các nhân vật.

Những hạn chế của truyện Tấm Cám.

hieuvanhiepduc | 15 December, 2011 03:41

alt
  Trong dân gian Tấm Cám là câu chuyện hay. Truyện đề cao cái thiện. Khi đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 10. Văn bản có những hạn chế như sau:
 Hạn chế thứ nhất, xét về lĩnh vực văn hóa, cách giải quyết mâu thuẫn trong truyện của người bình dân không hợp lí. Sự việc Tấm trừng trị mẹ con Cám không phù hợp với truyền thống nhân ái của người Việt. Khi xây dựng nên tình tiết đó người bình dân chỉ chú trọng đến ý nghĩa: Cái ác cần phải bị trừng trị thích đáng. Người xưa quan niệm cái ác phải bị trừng trị đích đáng nên hạn chế được cái ác. Ngày nay, xã hội văn minh nhưng cái ác không mất đi. Cái ác chuyển biến khiến con người ghê rợn. Cuộc sống hiện đại, có trường hợp con người sống ác với nhau hơn trong  truyện, vì sao?
  Hạn chế thứ hai là hạn chế về không gian văn hóa. Người bình dân chưa đến kinh đô nên nghĩ kinh thành cũng như ở quê nhà. Chi tiết Cám giặt áo cho vua, giặt xong mang ra phơi ở bờ rào. Kinh thành không có bờ rào. Bờ rào chỉ có ở thôn quê.
  Hạn chế thứ ba là hạn chế của người bình dân về sự hiểu biết các sinh hoạt trong xã hội. Người bình dân nghĩ rằng cuộc sống trong cung cũng như cuộc sống hằng ngày của mình. Trong cung, những công việc: Giặt áo, phơi áo, không phải công việc của hoàng hậu.
  Hạn chế thứ tư là lối kể của câu chuyện. Cùng một cốt truyện nhưng có người kể lôi cuốn, hấp dẫn, có người kể không lôi cuốn. Văn bản trong sách giáo khoa có lối kể không hấp dẫn.
  Chủ đề của truyện: "Ở hiền gặp lành", khi xây dựng câu chuyện để làm nổi bật được chủ đề đó người bình dân còn mắc nhiều hạn chế. Câu chuyện còn nhiều hạn chế nhưng chính những hạn chế đó bộc lộ được vẻ đẹp của người bình dân: Họ là những người thật thà, có mơ ước cao đẹp.
  (Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
   NVH.

Xin đại vương đình lại một đêm.

hieuvanhiepduc | 15 December, 2011 02:52

alt
  Không gian đa chiều. Thế giới đa cực. Cuộc sống đa dạng. Vì thế, cùng một vấn đề những người có quan điểm khác nhau sẽ có cách đánh giá khác nhau. Hiếu văn đăng tiểu phẩm "Xin đại vương đình lại một đêm". Tiểu phẩm được Hiếu văn chuyển thể từ truyện cười dân gian Việt Nam. Câu chuyện tuy ngắn nhưng thể hiện được cái nhìn sâu sắc của cha ông ta về cuộc sống. 
                  XIN ĐẠI VƯƠNG ĐÌNH LẠI MỘT ĐÊM 
Dưới âm phủ. Quỷ sứ bắt ba hồn trên dương thế về nộp Diêm vương. Diêm vương phán:
Diêm vương: Chúng bây khi sống làm nghề gì?
Hồn tên ăn trộm: Con nghèo lắm, không có của cải mà bố thí, nên phải thí công. Đêm nào con cũng đi đến nhà hàng xóm, xem họ có bỏ quên cái gì thì đem về cất giấu cho họ.
Diêm vương: Nguơi biết chịu khó, cho ngươi đầu thai làm quan lớn!
Hồn gái đĩ: Con từ nhỏ đến lớn không có chồng. Nhưng tính lại hay thương người, nhất là những người đàn ông góa bụa. Ai đến, con cũng tiếp đãi như chồng!
Diêm vương: Ngươi có lòng nhân đức, cho ngươi đầu thai làm bà lớn! (Chỉ hồn thầy thuốc). Còn ngươi?
Hồn thầy thuốc: Con không biết chịu khó, không có lòng nhân đức như hai người kia. Chỉ biết rằng ở dương thế, con cứu chữa được nhiều người khỏi bệnh.
Diêm vương (Nổi giận đùng đùng, mắng): Thì ra khi ta sai quỷ sứ lên dương thế để bắt hồn, chính mi đã làm cản trở lệnh ta! Quỷ sứ! Mang hắn bỏ vào vạc dầu!
Quỷ sứ xông tới, xốc vai hồn thầy thuốc định dẫn đi.
Hồn thầy thuốc (Quỳ lạy, vừa khóc vừa nói): Xin đại vương đình lại một đêm, để con về bảo con trai con đi ăn trộm, con gái con đi làm đĩ. Rồi ngài hãy bỏ con vào vạc dầu!
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011) 
NVH. 

Nhưng nó phải bằng hai mày.

hieuvanhiepduc | 14 December, 2011 04:40

   Hiếu văn chuyển thể từ truyện cười dân gian.
alt
Cảnh 1
Tại nhà lí trưởng.
Lí trưởng (Nói một mình): Nhà mình làm quan được ba đời,  nổi tiếng thanh liêm.
Vợ lí trưởng (Từ trong ra): Ông đã về rồi à! Ông đi, ông phó hương làng Hạ đến. Làng Hạ mong ông phân bổ con đường lát gạch về làng họ. Ông phó bảo mang lễ vật gì đến ông cũng không đồng ý.
Lí trưởng: Làng Hạ cho người mang khoai, sắn, gà, vịt đến. Nhận chỉ để cho chật nhà.
Vợ lí trưởng: Ông phó nhờ tôi nói giúp cho ông ấy. Ban đầu tôi từ chối, tôi bảo ông ấy: Quan nhà tôi thanh liêm lắm, tôi mà nhận ông ấy biết ông ấy rầy la tôi đấy!
Lí trưởng: Vợ khôn làm quan cho chồng.
Vợ lí trưởng: Ông phó năn nỉ mãi, tôi  nể tình mới bày cách:  Quan huyện nhà tôi tuổi "Tí". Dân làng Hạ đã có ý như vậy, thì hãy về đúc một con chuột vàng mang đến đây, rồi tôi cố nói giùm cho, họa may được chăng! Ông phó nghe lời, về bảo dân làng Hạ đúc một con chuột cống thật to, ruột đặc, toàn bằng vàng đem đến. Con chuột vàng đây ông xem.
Cầm đưa chuột vàng cho lí trưởng.
Lí trưởng (Cầm lấy chuột vàng, ngắm): Chà chà quý thật. Sao bà ngốc vậy! Sao bà bảo tôi tuổi "Tí"! Bà cứ bảo tôi tuổi "Sửu" có được không! Con trâu phải to hơn con chuột chứ! Chà chà tiếc thật của đến tay để tuột mất.
Vợ lí trưởng (Nói một mình): Ờ nhỉ, mình moi tiền thiên hạ nhiều rồi mà vẫn chưa khôn, rút kinh nghiệm lần sau (Cầm chuột vàng vào).
Cải (Lén lút ra): Dạ bẩm quan lớn?
Lí trưởng: Mày là thằng nào?
Cải: Dạ bẩm quan lớn, con là thằng Cải ở làng Thượng.
Lí trưởng: Ta thấy quen quen, mày hay bán gà chết cho mấy quán ăn trên chợ huyện chứ gì?
Cải: Dạ bẩm quan lớn, mong ngài thông cảm. Gà nhà con nuôi tốn kém, không may bị dịch bệnh, chôn đi thì tiếc, nên mang bán  mong kiếm lại đồng vốn.  
Lí trưởng: Nhà mày được cái hám lợi. Bán gà chết là gieo dịch bệnh. Phải tù mọt gông đấy con ạ!
Cải: Dạ bẩm! Con biết tội rồi xin quan đừng phạt. Lần sau gà, heo có chết, con để ở nhà cho con buôn đến mua. Con không mang ra chợ bán nữa!
Lí trưởng: Mày được cái lẻo mồm. Đêm hôm, mày đến nhà quan có việc gì?
Cải: Dạ bẩm thằng Ngô, thả trâu vào ruộng lúa nhà con. Con mắng nó, nó đánh con. Mai ra công đường mong quan xử cho nó có tội.
Lí trưởng: Mày tưởng làm quan dễ bắt tội người khác lắm à! Nó không có tội làm sao kết tội nó được?
Cải: Quan là cha mẹ của dân. Chỉ cần quan phán nó có tội thì nó có tội.
(Cải lấy túi tiền từ thắc lưng, giúi vào tay quan lớn). Gọi là có chút lòng thành. Mong quan cầm lấy.
Lí trưởng: Cái thằng này, mày chỉ muốn được việc mày. (Cầm túi tiền) Có cái này, lẽ phải thuộc về mày. Mày cứ về mai đến công đường quan sẽ liệu.
Cảnh 2
Đêm khuya tại nhà Ngô.
Ngô: Mai ra công đường tôi lo quá bà ạ!
Vợ Ngô: Lẽ phải thuộc về kẻ nhiều tiền. Ông đã lót tiền cho quan rồi, lo gì? Những mười đồng đấy!
Ngô: Sao tôi vẫn nghe lo lo bà ạ! Tôi sợ tiền mất tật mang.
Vợ Ngô:  cái làng này quan trên ai không nhận tiền của mình. Mấy thằng thuế quan, mấy thằng quản lí thị trường, mấy thằng kiểm lâm đã nhận tiền của mình. Nhận tiền của mình nên chúng nó mới để yên cho tôi buôn bán.
Ngô: Đồng tiền kì diệu thật. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Thằng Cải sẽ bị một trận nhớ đời. Mai ra công đường chắc chắn quan sẽ xử mình thắng kiện.
Vợ Ngô: Ông cứ chủ quan. Mình đã chung đủ cho mấy thằng thuế quan. Bọn chúng vẫn cứ hoạch họe mình đủ điều. Nay đòi nhậu, mai đòi nhậu. Buôn bán lời được mấy đồng. Phải chi cho thuế quan, phải chi cho quản lí thị trường, thuế phải nộp đủ. Quan bắt chẹt mình, mình phải buôn gian bán lận, lừa đám dân đen để bù lại. Thời buổi giờ mình có chắc thắng cũng không nên chủ quan ông ạ!  
Cảnh 3
Tại công đường có lí trưởng, hai lính lệ, Ngô, vợ Ngô, Cải, người thân của Cải.
Lính lệ: Dân chúng hãy nghe quan xử kiện.
Lí trưởng: Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Lính lệ (Xốc Cải, đè xuống đất, giá gậy chuẩn bị đánh)
Cải: Cải vội xoè năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí khẽ bẩm:
- Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
Lí trưởng: Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày! (Lí trưởng vừa nói vừa xòe bàn tay phải úp lên bàn tay trái).
Cải (Bị đánh, mếu máo, nói): Từ nay về sau, tôi sẽ lo làm ăn, không đánh nhau, không kiện cáo. Kiện cáo, thắng kiện, được vạ thì má đã sưng. Thua kiện, tiền mất tật mang. Khổ thân tôi quá bà con ơi! 
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
NVH.

Hai đứa trẻ- Ánh sáng niềm tin của con người vào sự đổi thay của cuộc sống.

hieuvanhiepduc | 13 December, 2011 10:53

alt 
  Nguyễn Tuân nhận xét: “Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu”. Quả thật hồn văn Thạch Lam là một thứ hương thơm dìu dịu như bao bọc, như ủ uớp tâm tình người đọc và cũng bằng hương thơm tinh khiết ấy, Thạch Lam đã điển hình hoá những âm thanh, mùi vị, màu sắc...muôn vẻ của một phố huyện nghèo và ủ ướp chúng vào tác phẩm Hai đứa trẻ. Trong khung cảnh tăm tối của phố huyện, Thạch Lam đã phát hiện ra nguồn ánh sáng quý giá, đó là: Ánh sáng tâm hồn, ánh sáng niềm tin của con người vào sự đổi thay của cuộc sống. Phải nói rằng với Hai đứa trẻ, ngòi bút của Thạch Lam đã thăng hoa để có những câu văn đứng vào hàng tuyệt bút.
    Hai đứa trẻ thể hiện được đặc trưng của giọng văn Thạch Lam. Truyện là bài thơ trữ tình đượm buồn. "Truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một phố huyện gần một cái ga xếp. Đêm đêm những bóng người bình thường cũng lù mù đi qua trước gian hàng. Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiều chấm lửa ở những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong khung cảnh bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua ra mới chịu đóng cửa hàng". Nguyễn Tuân đã tóm tắt truyện như thế. Hai đứa trẻ không có cốt truyện, không có biến cố. Thiên truyện như là sân khấu để nhà văn phô diễn những mảnh đời nơi phố huyện. Song vượt lên trên cái thường ngày, với thế giới nghệ thuật riêng, thời gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, ngôn ngữ riêng Thạch Lam đã tạo nên giọng điệu nhẹ nhàng, buồn man mác, đậm đà hương vị đồng quê. Truyện nhiều bóng tối nhưng lại chói sáng tình thương.
     Thạch Lam đã khoác lên đứa con tinh thần của mình tấm áo choàng được kết hợp hài hoà giữa bóng tối và ánh sáng.
     Bóng tối bao trùm cảnh vật. Bóng tối như một ám ảnh, như một quái vật đè nặng lên cảnh vật và con người. Tác giả nhắc đến bóng tối nhiều lần bằng những cách nói, bằng những hình ảnh và từ ngữ khác nhau: “Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “Chiều, chiều rồi”, “Đường phố và các ngõ con dần đần chứa đầy bóng tối”, “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Bóng tối như một sự vật đang hoạt động, đang thâm nhập, đang len lỏi, luồn lách, bám sát vào cảnh vật. Bóng tối chính là cái nền không gian nghệ thuật để các nhân vật xuất hiện. Tối là lúc chị Tí dọn hàng ra “Tối đến chị mới dọn cái hàng dưới gốc cây bàng”. Nhìn dáng chị, nghe lời nói của chị “Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì” khiến người đọc buồn đến não lòng. Về đêm bác phở Siêu xuất hiện như một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Cụ Thi đến và đi trong bóng tối. Thạch Lam diễn tả tỉ mỉ về tâm trạng, về những suy nghĩ của Liên và An khi đêm xuống: "Đêm tối đối với Liên quen lắm", " Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị". Bóng đêm đã nhuộm đen cuộc đời con người ở phố huyện. Khi đặt bút viết từ "Thấm thía", Thạch Lam đã lột tả được nỗi cơ cực của kiếp người. Hai đứa trẻ đáng lí phải được sống vui vẻ. Thế nhưng cuộc đời cay nghiệt đã sớm gieo rắc nỗi buồn vào tâm hồn ngây thơ của chúng. Trẻ thơ sớm vương vấn nỗi buồn hỏi lớn lên còn buồn biết bao nhiêu?
   Trong truyện có ánh sáng, đó là: "Hột sáng", "Khe sáng", "Quầng sáng". Ánh sáng yếu ớt, ánh sáng xuất hiện không làm cho không gian sáng rõ mà làm cho khung cảnh tối hơn: "Những nguồn sáng ấy chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng, một bên tối". Ánh sáng ít ỏi. Ánh sáng không chiến thắng được bóng tối. Phố huyện chuyển dần về đêm, xung đột giữa bóng tối và ánh sáng diễn ra mạnh mẽ. Ánh sáng yếu dần, ban đầu “Bầu trời đỏ rực như lửa cháy, mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” sau đó bóng tối len dần lên ngọn tre và cuối cùng bao trùm lên cả phố huyện. Về đêm, ánh sáng của thiên nhiên, ánh sáng của ngoại cảnh ít dần. Ánh sáng ẩn chứa trong tâm hồn con người toả sáng và lên ngôi. Thạch Lam rất tinh tế khi khám phá được nguồn ánh sáng quý giá đó. Mỗi con người có một vẻ đẹp riêng. Thạch Lam khẳng định "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ".
  Vũ trụ bao la tương phản, đối lập với cuộc sống tù đọng ở phố huyện. Tình huống tạo nên câu chuyện là hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo. Liên và An như hai mầm cây. Hai mầm sống đó nhú lên từ mảnh đất cằn cỗi, không có sinh khí. Sự tương phản đó làm ray rứt lòng người, làm dâng lên niềm thương cảm của người viết, làm thổn thức trái tim người đọc. Những suy tư về cuộc sống con người đã tạo nên giọng điệu trữ tình của thiên truyện. Thạch Lam đã miêu tả con người và khung cảnh trong sự hoà hợp dịu dàng giữa ánh sáng và bóng tối. Trong truyện, ánh sáng và bóng tối còn mang ý nghĩa tượng trưng. Ánh sáng tượng trưng cho ước mơ. Bóng tối tượng trưng cho sự nghèo nàn, tượng trưng cho cuộc sống quẩn quanh, tăm tối.
     Phố huyện trong truyện có nguyên mẫu từ phố huyện Cẩm Giàng, nơi Thạch Lam trải qua tuổi thơ buồn, lận đận. Qua ngòi bút của Thạch Lam phố huyện đó đã trở thành một phố huyện viết hoa- Chỉ miền đời bị lãng quên. Người đọc có thể tìm thấy ở phố huyện những gì thân thuộc nhất. Đó hình ảnh hàng tre thân thương đượm tình quê hương. Những đồ vật tồi tàn nhưng gắn bó sâu nặng nghĩa tình với con người. Những bóng dáng thân quen trong nhịp sống thường ngày. Tất cả thu mình trong bầu không khí ngột ngạt, thiếu hơi thở. Sự sống đang đuối dần. Khung cảnh phố huyện được người nghệ sĩ tài hoa phát họa bằng hệ thống sự kiện, thời gian, cảnh vật, đồ vật và nhân vật hoà điệu, ăn nhập với nhau đến kỳ lạ. Một ngày tàn kéo dài đến đêm tàn. Một phiên chợ tàn. Một hệ thống cảnh vật, đồ vật tàn. Khi màn đêm buông xuống là lúc phố huyện bộc lộ rõ cuộc sống tăm tối, nghèo nàn. Gọi là phố huyện nhưng thực chất nơi đó chỉ là một miền quê nghèo, cuộc sống con người quẩn quanh, mòn mỏi. Ánh sáng yếu ớt, âm thanh thưa thớt, hơi thở nhẹ dần, tan rã theo từng thời khắc. Phố huyện bị nuốt dần vào màn đêm hoang vu thăm thẳm.
      Lấy bóng tối làm nền, Thạch Lam cho xuất hiện những kiếp người tàn. Người này vừa lùi vào bóng tối thì người khác từ bóng tối đi ra. Trong màng đêm, có những kiếp người tàn theo đúng nghĩa đen như: Bác Xẩm, bà cụ Thi điên. Những người này là những phế nhân, người còn đó mà đời đã tàn quá nửa. Cảnh bà cụ Thi điên uống rượu được Thạch Lam miêu tả thật ấn tượng "Cụ ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch", cụ uống rượu mà như uống nỗi uất hận vào lòng. Cụ Thi là hiện thân của kiếp người tàn tạ. Điều độc đáo nhà văn khám phá được là trong kiếp người tàn tạ đó vẫn còn có ánh sáng của niềm ham mê sự sống. Phố huyện chính là sân khấu thu nhỏ. Trên Sân khấu- Cuộc đời, con người có thể đổi vai nhưng không thể đổi phận được. Dường như, không phải họ đang sống mà là đang cầm cự trong vô vọng. Phải chăng, hành động của con người chính là ánh sáng quý giá, tiềm ẩn mà nhà văn đã phát hiện ra?
   Xuân Diệu là người sống cùng thời với Thạch Lam. Là trí thức, mang thân phận của người dân mất nước, Xuân Diệu thấm thía nỗi cô đơn của kiếp người nô lệ. Tỏa nhị kiều là một truyện ngắn rất hay của Xuân Diệu. Trong truyện Xuân Diệu ví cuộc đời giống như cái "Ao Đời phẳng lặng". Cuộc đời  quẩn quanh, nhàm chán, nhà thơ có ý tưởng muốn khuấy động cái "Ao Đời phẳng lặng" đó. Nhà thơ muốn con người sống phải có mơ ước. Trong Tỏa nhị kiều, Xuân Diệu đã nói thay lời của nhân vật. Với Hai đứa trẻ, Thạch Lam đã ngả bóng dáng mình vào trong từng trang viết. Trên nền khung cảnh chỉ có bóng tối và sự tịch mịch ngự trị là cuộc sống của hai chị em Liên và An. Hai đứa trẻ này có nguyên mẫu là chị em Thạch Lam những năm thiếu thời. Khi vào tác phẩm nhân vật đã được điển hình hoá. Liên là một cô gái mới lớn. Vừa mới lớn nên đam mê sự sống. Vừa mới lớn nên tâm hồn nhạy cảm. Nhận thức có thể chưa chín nhưng cảm nhận thì đang ở độ sâu sắc nhất của hồn người. Mối liên hệ tinh vi giữa tâm hồn và ngoại cảnh ở Liên như muôn vàng sợi tơ mong manh, vô cùng mẫn cảm. Điều đó cho phép Liên cảm được bầu không khí tàn úa của phố huyện. Buộc cô trăn trở, mơ tưởng đến một cuộc sống tươi sáng hơn. Hằng ngày Liên chứng kiến cuộc sống quẩn quanh, tù túng của những con người ở phố huyện. Những kiếp người tàn tạ đó là hiện tại cũng là tương lai của Liên. Nếu cuộc sống không thay đổi tương lai Liên sẽ trở thành những con người kia. Nhận thức điều đó, Liên buồn thương cho hiện tại, nhớ tiếc quá khứ, mơ tưởng đến tương lai. 
  An cũng là lựa chọn độc đáo của Thạch Lam. Nếu Liên là bè chủ thì An là một bè trầm. Cả hai song tấu trong khúc nhạc buồn miên man của phố huyện. Cả hai đã phụ họa cho nhau tạo nên phần đậm nhất, thấm thía và ray rứt nhất trong thế giới trữ tình của thiên truyện.
    Sự kiện chính có ý nghĩa sâu sắc nhất trong thiên truyện này là hành động đợi tàu của Liên và An. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Lạ vì Liên và An đợi tàu không có mục đích thiết thực. Hai đứa trẻ đợi tàu chỉ để nhìn đoàn tàu. Không có lí do thiết thực nhưng ngày nào cũng đợi. Dường như chưa được nhìn đoàn tàu Liên và An chưa được sống trọn vẹn một ngày. Liên và An đợi tàu, bởi lẽ, đoàn tàu là hoạt động cuối cùng của một ngày. Đoàn tàu mang đến một thế giới khác đi qua. Đoàn tàu khuấy động bầu không khí hoang vắng của phố huyện. An và Liên cố đợi là để được hoà vào nhịp sống sôi động mà đoàn tàu mang lại. Nghĩa là từ sâu trong tâm hồn hai đứa trẻ đã có một sự chối bỏ, không thoả hiệp với cuộc sống tẻ ngắt ở chốn này. Đoàn tàu là niềm vui duy nhất trong ngày. Bị cuộc sống cướp mất tuổi thơ, phải vất vả mưu sinh cùng với người lớn nhưng chị em Liên vẫn là hai đứa trẻ. Tâm hồn của Liên và An là tâm hồn của hai đứa trẻ. Hằng ngày, chị em Liên đợi tàu và gởi vào đó niềm mơ ước. Đoàn tàu đến từ Hà Nội, nơi Liên và An sống  với tuổi thơ vui vẻ, sung sướng. Tuy xa xăm nhưng Hà Nội có thật “Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội vui vẻ sáng rực và huyên náo”. Đoàn tàu gợi Liên nhớ lại những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ. Liên nhớ lại những lần được đi chơi ở bờ hồ, được uống những cốc nước xanh đỏ. Chờ đợi và nhìn đoàn tàu là một nhu cầu tâm lý rất tự nhiên và thiết yếu của chị em Liên. Đoàn tàu là sứ giả của một cuộc sống khác. Vị sứ giả vừa mời gọi vừa lạnh lùng. Thạch Lam viết “Con tàu đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn”. Nó hoàn toàn tương phản với phố huyện. Vụt qua trời đêm của phố huyện như một vệt sao băng, đoàn tàu đã nhắc nhở cho Liên và An biết, đâu đó ở bên ngoài phố huyện này vẫn có một thế giới khác, ở đó cuộc sống tươi vui, đáng sống hơn. Đoàn tàu đã nhen lên trong lòng hai đứa trẻ những mơ tưởng, những hy vọng. Liên và An chưa kịp vui, giống như một vệt sao băng, đoàn tàu đã mất hút vào đêm tối. Đoàn tàu đi mang theo vào bóng tối những mơ ước của Liên. Con người muốn thay đổi nhưng cuộc đời không đổi thay. Cuộc sống nơi phố huyện khác nào cái ao tù vô hình đang muốn nhấn chìm cuộc sống của chị em Liên. Đoàn tàu đối với hai đứa trẻ cũng tựa một cái phao tinh thần. Cố gắng đợi chờ là nỗ lực của chị em Liên, Liên và An cố ngoi lên để bám víu vào cái phao ấy cho khỏi bị chìm hẳn. Tiếc rằng đoàn tàu không đông, kém sáng hơn mọi khi. Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi. Việc hai đứa trẻ ngồi đợi tàu trong mắt người đời chỉ là một việc bình thường, thậm chí vô nghĩa, nhưng Thạch Lam lại thấy trong đó một ý nghĩa rất lớn. Sự việc đó chứa đựng khát khao không chỉ của hai đứa trẻ, không chỉ của phố huyện nghèo mà là của cả thế giới này: Khao khát cuộc sống  thay đổi. Hãy mang đến một cuộc sống khác xứng đáng với con người hơn. Đó là cuộc sống mà con người có quyền sống, có quyền hy vọng.
       Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh sáng lòng nhân ái của nhà văn. "Không có ước mơ nào là quá muộn" nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu "Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ". Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ ước, sống có ý nghĩa.
(Hiệp Đức, tháng 02 năm 2011)
NVH- TTTU.

Hai đứa trẻ.

hieuvanhiepduc | 11 December, 2011 07:46

I. Tác giả Thạch Lam.
1. Cuộc đời.
- Thạch Lam là bút danh, tên của nhà văn là Nguyễn Tường Lân.
- Quê cha ở làng Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  Quê mẹ phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Sinh ra ở Hà Nội.
- Thạch Lam là con người góp phần tạo nên danh tiếng của dòng họ Nguyễn Tường.
- Ông là cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn.
- Thạch Lam là người tài hoa nhưng cuộc đời bất hạnh. Ông mất tại Hà Nội năm 1942.
2. Sự nghiệp văn chương.
- Thạch Lam đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại ba tập truyện ngắn, một truyện dài, một tiểu luận, một bút kí.
- Thế giới nhân vật trong truyện của Thạch Lam là những người nghèo khổ, cuộc sống của họ cơ cực, bế tắc. Thạch Lam viết về họ với nỗi xót thương và lòng cảm thông sâu sắc.
Thạch Lam có đóng góp lớn cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
3. Phong cách.
- Thạch Lam có sở trường ở thể loại truyện ngắn. Truyện của Thạch Lam không có chuyện, không kể được. Mỗi truyện của Thạch Lam là một bài thơ trữ tình đượm buồn.
- Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, tinh tế.
II. Truyện Hai đứa trẻ.
1. Xuất xứ.
- Hai đứa trẻ in trong tập “Nắng trong vườn”, xuất bản năm 1938.
- Tác phẩm có sự hòa nguyện giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực.
2. Hai đứa trẻ- Bài ca về sự sống.
a. Phố huyện lúc chiều tàn.
a1. Cảnh ngày tàn.
Thạch Lam miêu tả cảnh ngày tàn bằng hai chất liệu:
- Âm thanh:
+ Tiếng trống thu không: Tiếng trống vang xa gọi chiều về, gợi nỗi lòng ray rứt.
+ Tiếng ếch nhái.
+ Tiếng muỗi vo ve: Âm thanh gợi sự quạnh hiu, buồn bã.
- Màu sắc:
+ Phương tây đỏ rực như lửa cháy.
+ Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.
+ Dãy tre làng đen lại.
- Thạch Lam chọn những âm thanh, những màu sắc tiêu biểu để miêu tả cảnh buổi chiều.
- Bức tranh của ngày tàn cũng là bức tranh quê hương, bức tranh làng quê Việt Nam thời Pháp thuộc.
a2. Cảnh chợ tàn.
- Hình ảnh:
+ Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu.
+ Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ thị, vỏ bưởi.
- Mùi vị:
+ Mùi âm ẩm.
 - Hình ảnh, mùi vị ở phố chợ gợi lên sự nghèo khổ.
a3. Cảnh con người tàn.
- Mấy đứa trẻ con nhà nghèo:
+ Cúi lom khom, nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre. Những đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ kiếm sống khi chợ đã vãn. Những vật mọi người bỏ đi đối với chúng rất có giá trị.
- Những người bán hàng về muộn:
+ Gánh đã xỏ vào quang nhưng vẫn còn náng lại để nói chuyện. Những người bán hàng không vội vã, điều đó thể hiện nhịp sống chậm rãi, ể ỏi ở phố huyện.
- Cảnh dọn hàng ra của chị Tí:
+ "Chị Tí để chỏng xuống đất, bày biện các bát uống nước".
+ Lời chị Tí: “Ối chao sớm với muộn mà có ăn thua gì?”.
- Chị Tí không kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng.
- Cảnh dọn hàng ra của chị em Liên.
+ "Hôm nay ngày phiên mà bán chẳng ăn thua gì!".
Liên và An được mẹ giao trông coi cửa hàng tạp hóa bé xíu. Mẹ Liên dặn sáng mở cửa hàng ra, chiều tối thì đóng của hàng lại.
- Hàng hóa dọn ra rồi lại dọn vào bán chẳng ai mua.
- Cảnh uống rượu của bà cụ Thi:
+ Cụ ngửa cổ ra đằng sau uống hơi cạn sạch. Cụ Thi uống rượu mà như uống nỗi uất hận vào lòng. Cụ Thi là hiện thân của kiếp người đang tàn tạ.
- Cuộc sống của những người ở phố huyện mỗi người mỗi cảnh. Cuộc đời họ có chung nỗi buồn chán, sự mệt mỏi.
Bức tranh phố huyện cũng chính là bức tranh cuộc đời. Đời: “Đời tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến” (Huy Cận), “Cái Ao Đời phẳng lặng” (Xuân Diệu).
- Con người, cảnh vật tác động đến tâm trạng Liên:
+ Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có gì cho mấy đứa trẻ con nhà nghèo.
+ Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và nỗi buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị.
b. Phố huyện về đêm.
     b1. Phố huyện về đêm.    
      Bức tranh phố huyện:
      Thạch Lam chọn hai chất liệu để tạo nên bức tranh phố huyện về đêm.
       - Bóng tối:
        + “Đường phố và các ngõ con”
        + “Tối hết cả”
       - Bóng tối tràn ngập không gian.
       - Ánh sáng:
        + “Khe ánh sáng”.
        + “Vệt sáng”.
        + “Hột sáng”.
       - Ánh sáng yếu ớt, ít ỏi. Con người dùng ánh sáng để xua bóng đêm. Phố huyện về đêm, ánh sáng yếu ớt. Ánh sáng không chiến thắng được bóng đêm. Ánh sáng làm cho không gian mờ thêm.
Cuộc sống của con người:
   - Phở bác Siêu: Quà của bác Siêu xa xỉ, nhiều tiền nên chưa có khách.
   - Bác xẩm: Chưa hát vì chưa có khách nghe.
   - Tâm trạng Liên và An:
   + Hoài vọng, nuối tiếc kỉ niệm đã qua.
   + Buồn, xót thương cuộc sống cơ cực của con người.
   - Cuộc sống của con người tù túng, quẩn quanh. Họ có chung tâm trạng:“Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.
b2. Hình ảnh chuyến tàu đêm.
Con người mong đợi chuyến tàu đêm.
Vì: Chuyến tàu là hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
- Cảnh đợi tàu:
 + “Buồn ngủ ríu cả mắt mà vẫn đợi”.
Tâm trạng con người:
+ Hi vọng.
- Cảnh tàu đến:
+ “Các toa đèn sáng trưng”.
Tâm trạng con người:
+ Náo nức, phấn khởi.
+ Hồi tưởng những kỉ niệm.
- Cảnh tàu đi:
+ Để lại những đốm than đỏ.
+ Phố huyện lại chìm vào đêm tối.
Tâm trạng con người:
+ Tiếc nuối.
Ý nghĩa của hình ảnh đoàn tàu:
- Đoàn tàu tượng trưng cho thế giới khác. Con người mơ ước cuộc sống đổi thay. Dù cuộc sống không đổi thay nhưng con người vẫn mơ ước.
III. Tổng kết.
  1. Nội dung.
    - Truyện là niềm xót thương của Thạch Lam đối với những kiếp người nghèo khổ. Nhà văn trân trọng niềm mơ ước của con người.
 2. Nghệ thuật.
    - Thạch Lam sử dụng thành công bút pháp tương phản.

Chữ người tử tù.

hieuvanhiepduc | 08 December, 2011 16:06

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
(Hiếu văn chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Tuân)
Cảnh 1
Tại văn phòng trại giam.
(Quản ngục đang ngồi trầm tư, thơ lại chạy vào, cầm tờ giấy)
Thơ lại (Trình phiến trát cho quản ngục): Thưa thầy quản, có phiến trát của tổng đốc Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường ạ.
Quản ngục ón tờ giấy, đọc): Này, thầy bát, cứ công văn này, thì chúng ta sắp nhận được sáu tên tù án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không? 
Thơ lại: Dạ, bẩm chính y đó. Dạ, bẩm có chuyện chi vậy? 
Quản ngục: Không, tôi nghe tên quen quen, nhiều người nhắc đến cái tên đó, tôi hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. À, nhưng mà thong thả. Thầy bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng cuối cùng. Có việc dùng đến. Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nỗi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không? 
Thơ lại: Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà! 
Quản ngục: Ờ, cũng gần như vậy. Sao thầy lại chặc lưỡi?             
Thơ lại: Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc. 
Quản ngục: Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn. Thôi, thầy lui về mà trông nom việc dưới trại giam. Mai, chúng ta phải dậy sớm để có mặt ở cửa trại trước khi lính tỉnh trao tù cho mình lĩnh nhận. Ðêm nay, thầy bắt đầu lấy thêm lính canh. Mỗi chòi canh, đều đặt hai lính. Chòi nào bỏ canh, hễ mỗi vọng canh ngủ quên không đánh kiểng, đánh mõ, thầy nhớ biên cho rõ, cho đúng để mai tôi phạt nặng. Chớ có cho mấy thằng thập nó đánh bạc nghe! 
Thơ lại: Dạ vâng (Vào)
Cảnh 2
Tại nhà quản ngục.
(Đêm  khuya một mình quản ngục ngồi suy ngẫm. Ba cái tim bấc trên đĩa dầu sở được chụm nhau lại, cháy bùng to lên. Thỉnh thoảng tiếng mõ cầm canh vọng đến)
Quản ngục (Nói một mình): Cái sở nguyện của ta là một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối do tay Huấn Cao viết. Chữ Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời. Khổ tâm nhất là có Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ.
Ta muốn biệt đãi Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại, nhưng chỉ sợ tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên.
Có lẽ lão bát này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Ðể mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu.
Cảnh 3
Trước cửa nhà lao.
Thơ lại (Vội vã vào): Thưa thầy lính tỉnh đã giải tử tội đến rồi à.
Quản ngục: Quan coi ngục của tỉnh đưa tử tội đến sớm. Ta đã kí nhận. Quan trên đã tức tốc lên kinh đô để lo việc triều đình. Ông ấy chỉ để hai tên lính áp giải ở lại đây thôi.
Thơ lại (Nhìn sáu tên tù): Quan trên cẩn thận thật. Ông ta để sáu tử tội mang chung một cái gông. Cái gông nặng khoản chừng bảy, tám tạ. Thật xứng đáng với sáu tên tử tù.
Huấn Cao (Đứng đầu gông, ngoảnh lại nói với các bạn tù): Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi. 
Sáu người đều quỳ cả xuống đất, hai tay ôm lấy thành gông đầu cúi cả về phía trước.
Lính áp giải 1: Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sõi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập.
Lính áp giải 2: Đứng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ. 
Huấn Cao (Lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen). 
Lính áp giải 1 (Chỉ Huấn Cao, nói với quản ngục): Bẩm ngài, tên ấy chính là thủ xướng. Xin ngài để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn. 
Quản ngục:  Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời. 
Cánh cửa đề lao mở rộng. Sáu người né mình tiến vào.
Cảnh 4
Tại buồng giam
Huấn Cao (Ngồi một mình, ngâm):Trăng trên thành Thăng Long/Đêm nay có sáng không? Nhíu mày lo đời đục/Mỏi mắt chờ sông trong (1).
Thơ lại (Bưng mâm có chai rượu, ly và đĩa thức ăn bước vào): Thưa ngài, thầy quản chúng tôi có ít quà mọn biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây lạnh lắm.
Huấn Cao (Nhìn thơ lại, rồi  thản nhiên rót rượu uống. Xong, thơ lại  thu mâm chén bưng vào).
Quản ngục (Mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi Huấn Cao):  Ðối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất. 
Huấn Cao (Cố ý lên giọng): Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây. 
Quản ngục (Kính cẩn cúi đầu): Xin lĩnh ý.
 (Giật lùi, khóa cửa buồng giam, vào).
Huấn Cao (Nói một mình): Tại sao quản ngục lại biệt đãi ta? Hay là hắn muốn dò đến những điều bí mật của ta? Không, không phải thế, vì bao nhiêu điều quan trọng, ta đã khai bên ty niết cả rồi. Ta đã nhận tội. Lời cung ta ký rồi. Có còn gì nữa mà dò cho thêm bận.
Cảnh 4
Tại văn phòng nhà lao
Quản ngục 

(Nói một mình): Trong đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc. Cuộc sống thật hỗn loạn, xô bồ. Ông trời nhiều khi chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Những người có tâm tốt lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt. Sớm muộn gì ta cũng phải thay đổi chỗ ở thôi.

 

Thơ lại (Vội vã bước vào): Thưa thầy có công văn quan hình bộ thượng thư trong kinh gởi ra, bắt chúng ta phải giải Huấn Cao và các bạn đồng chí của ông ấy vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi. 

Quản ngục (Nhận lấy công văn và đọc): Ngày mai lính tỉnh đến giải tử tù đi. Nhanh thế ư? Có Huấn Cao trong tay, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Ông Huấn bị hành hình mà mình không kịp xin được chữ, thì ân hận suốt đời. Chà chà tiếc thật!
Thơ lại: Dạ thầy tiếc điều gì?
Quản ngục: Cái sở nguyện của ta là một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối do tay Huấn Cao viết. Theo công văn này, sở nguyện của ta sẽ không đạt được.
Thơ lại: Mai lính tỉnh mới đến giải tử tội đi. Còn thời gian, xin ngài cứ yên tâm, đã có tôi lo.
(Thơ lại nói xong, chạy ngay xuống phía buồng giam Huấn Cao)
Cảnh 5
Tại buồng giam
Huấn Cao (Nói với thơ lại): Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ.
Thơ lại: Dạ (Vào).
Cảnh 6
Đêm khuya ở buồng giam.
(Một bó đuốc đang cháy. Huấn Cao vẫn đeo gông, ngồi giữa cầm bút lông, tay mềm mại viết từng nét chữ. Quản ngục khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa. Thơ lại gầy gò  tay run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc nói với quản ngục)
 Huấn Cao: Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc cái đời lương thiện. 
(Ba người nhìn bức châm. Bức châm ghi câu: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, rồi nhìn nhau).
 Quản ngục: (Cảm động, nghẹn ngào, vái Huấn Cao một vái): Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
NVH.
Chú thích: (1) Thơ Cao Bá Quát, Thái Bá Tân dịch.

Chí Phèo.

hieuvanhiepduc | 07 December, 2011 16:08

 I. Tác giả Nam Cao.
  1. Cuộc đời.
  - Tên của nhà văn là Trần Hữu Tri. Nam Cao là bút danh. Bút danh đó được ghép giữa chữ đầu của tên huyện và tên tổng.
  - Quê quán: Làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng Bắc Bộ. Vùng quê đó đi vào sáng tác của Nam Cao với tên làng Vũ Đại.
  - Gia đình: Nam Cao xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, đông con. Cuộc sống túng thiếu của gia đình được diễn tả nhiều lần trong tác phẩm của ông.
 - Cuộc đời: Làm nhiều nghề để mưu sinh, nên giàu vốn sống. Trang viết của Nam Cao chân thực. Ông tham gia cách mạng, anh dũng hi sinh năm 1951.
  Nam Cao đã sống cuộc đời của một nhà văn, nhà giáo, nhà báo, cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng.
  2. Con người.
  Con người Nam Cao có ba đặc điểm chi phối đến sáng tác của ông.
  -  Nam Cao mang tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội đương thời.
  - Giàu ân tình đối với những người nghèo khổ.
  - Nam Cao luôn suy tư về bản thân, tự đấu tranh để tự vượt lên chính mình.
  Bề ngoài tỏ ra lạnh lùng nhưng bên trong đời sống nội tâm phong phú.
 3. Quan điểm nghệ thuật.
  Trước cách mạng Nam Cao gián tiếp trình bày quan điểm sáng tác thông qua hai tác phẩm “Đời thừa” và “Giăng sáng”. Thông qua hai tác phẩm này, Nam Cao quan niệm:
  - Văn học phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống.
  Quan điểm này được trình bày qua lời của Điền trong truyện “Giăng sáng”. Trong truyện “Giăng sáng”, nhà văn Điền phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than”.
  - Nghề văn cần sáng tạo.
  Nhà văn Hộ trong truyện “Đời thừa” phát biểu: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Hộ quan niệm: Văn chương phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống. Nhà văn cần phải sáng tạo.
  - Nhà văn cần có trách nhiệm với cuộc sống.
  Văn sĩ Hộ trong “Đời thừa” coi trọng trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”.
  Quan điểm của nhân vật Hộ, của nhân vật Điền cũng chính là quan điểm sáng tác của Nam Cao.
  Sau cách mạng, quan điểm sáng tác của Nam Cao có sự thay đổi. Nam cao cho rằng:
  - Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người.
  - Văn chương là vũ khí đấu tranh cách mạng.
 4. Sự nghiệp văn chương.
  Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết.
  a. Các đề tài chính.
      Trước cách mạng, Nam Cao sáng tác tập trung ở hai mảng đề tài: Đề tài người trí thức nghèo và đề tài người nông dân nghèo.
  - Đề tài người trí thức nghèo.
  Các tác phẩm tiêu biểu: Đời thừa, giăng sáng, sống mòn.
  Viết về người trí thức, Nam Cao diễn tả tấn bi kịch tinh thần của họ. Nhân vật về người trí thức của Nam Cao là nhà văn, nhà giáo. Họ sống có mơ ước cao đẹp, có lí tưởng lớn lao nhưng hiện thực cuộc sống không cho phép họ thực hiện niềm mơ ước đó. Nhân vật người trí thức trong truyện của Nam Cao phải sống cuộc sống vô ích, trở thành những con người thừa. Thầy giáo Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn đã ý thức được bi kịch của cuộc đời mình: “Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!”, “Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã”. 
Tập trung diễn tả bi kịch của người trí thức, Nam Cao lên án hiện thực xã hội đã giết chết niềm mơ ước của con người.
  - Đề tài người nông dân nghèo.
  Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, một bữa no, tư cách mõ.
  Viết về người nông dân, Nam Cao diễn tả sự tha hóa, biến chất của họ. Sự áp bức, bóc lột, cái đói đã đẩy người nông dân vào tình cảnh túng quẩn, bần cùng. Họ đánh mất cả tính người lẫn hình người. Viết về bi kịch của người nông dân, Nam Cao kết tội chính sự tàn bạo của giai cấp thống trị đã hủy diệt bản tính tốt đẹp của người dân lao động. Nhà văn sâu sắc khám phá, khẳng định vẻ đẹp của con người ngay cả khi họ bị vùi dập, bị cướp đi nhân tính lẫn nhân hình.
  Viết về người trí thức hay viết về người nông dân, Nam Cao đều đề cao quyền sống của con người
  Sau cách mạng, Nam Cao dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến. Các tác phẩm chính: “Nhật kí ở rừng”, “Đôi mắt”, “Chuyện biên giới”.
  b. Phong cách nghệ thuật.
  - Nam Cao có sở trường trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.
  - Ngôn ngữ truyện của Nam Cao tự nhiên, sinh động.
  - Nam Cao thành công trong việc xây dựng những đoạn đối thoại, những dòng độc thoại nội tâm.
  - Văn Nam Cao lạnh lùng, giàu tính triết lí.
II. Truyện ngắn Chí Phèo.
 A. Giới thiệu chung.
   1. Hoàn cảnh sáng tác.
  - Viết truyện Chí Phèo, Nam Cao dựa vào cảnh thật, người thật,  việc thật xảy ra tại làng quê của ông.
  2. Nhan đề tác phẩm.
  Tác phẩm có ba tên gọi, đã hai lần đổi tên.
  - Lúc mới ra đời tác phẩm được Nam Cao đặt tên là “Cái lò gạch cũ”. Khi xuất bản, truyện được nhà xuất bản đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi”. Khi cho tái bản, Nam Cao đã đổi tên thành Chí Phèo. Nhan đề tác phẩm thể hiện chủ đề của truyện.
 3. Đọc và tóm tắt.
  - Chí Phèo là đứa con hoang.
  - Năm 20 tuổi Chí Phèo làm canh điền cho nhà Lí Kiến.
  - Vì ghen tuông, Lí Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù.
  - Nhà tù thực dân đã làm cho Chí Phèo thay đổi về hình dáng lẫn tính cách.
  - Chí Phèo trở thành kẻ lưu manh, thành tay sai của Bá Kiến.
  - Tình thương của Thị Nở đã làm Chí Phèo thay đổi.
  - Chí Phèo muốn làm người lương thiện nhưng không được.
  - Hắn đã giết chết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc sống của mình.
 4. Giá trị của tác phẩm.
  a. Giá trị hiện thực.
  - Truyện viết về tình cảnh người nông dân bị lưu manh hóa.
  - Tác phẩm chỉ ra mâu thuẫn giai cấp gay gắt ở nông thôn Việt Nam trong xã hội phong kiến.
 b. Giá trị nhân đạo.
  - Thông qua tác phẩm, Nam Cao khám phá bản tính tốt đẹp của con người.
 c. Giá trị nghệ thuật.
  - Bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, Nam Cao xây dựng thành công nhân vật điển hình trong mối quan hệ với hoàn cảnh điển hình.
B. Đọc hiểu văn bản.
 1. Hình tượng  Chí Phèo.
  a. Chí Phèo trước lúc vào tù.
  - Chí Phèo là đứa trẻ bị bỏ rơi, lớn lên nhờ vào sự cưu mang của những người dân lương thiện ở làng Vũ Đại.
  - Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho nhà Lí Kiến.
  - Khi còn trẻ, Chí Phèo là thanh niên sống có mơ ước:
   + “Hắn ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”.
   + Hắn sống có lí trí. Chí Phèo phân biệt được tình yêu và thói dâm ô. Nên khi bị bà Ba sai làm việc không chính đáng, hắn cảm thấy nhục. Diễn tả tâm hồn trong sáng của chàng trai mới lớn, Nam Cao viết thật hay: “Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích cái gì người ta khinh”.
  Chí Phèo là người nông dân hiền lành, chất phác. Xứng đáng có cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng Chí Phèo không thể sống cuộc đời một người lương thiện. Vì ghen tuông, Lí Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù.
 b. Chí Phèo sau khi ra tù.
  Chí Phèo bị giải lên huyện rồi nghe đâu phải đi tù. Không biết tù mấy năm, nhưng hắn đi biệt tăm đến bảy tám năm, rồi một hôm hắn lù lù ở đâu lần về. Nhà tù thực dân đã làm Chí Phèo thay đổi cả hình dáng lẫn tính cách.
  - Hình dáng: Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, mặt đen, mắt gườm gườm, ngực xăm ông tướng cầm chùy.
  - Tính cách:
    + “Hắn vừa đi vừa chửi”.
    + “Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, tỉnh dậy vẫn còn say”.
    + Chí Phèo trở thành tay  sai đắc lực của Bá kiến. Hắn rạch mặt ăn vạ, đâm thuê chém mướn.
  Chí Phèo đã đánh mất tính người. Chí Phèo thành kẻ lưu manh, thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, thành tay sai của Bá Kiến. Bá Kiến lợi dụng Chí Phèo trừng trị, để bóc lột người dân làng Vũ Đại.
Chí Phèo là hiện tượng có tính quy luật, là sản phẩm của tình trạng áp bức, bóc lột.
   - Mối tình của Chí Phèo và Thị Nở.
   Bất ngờ, Chí Phèo gặp Thị Nở và sống vớ nhau như vợ chồng.
  - Nhân vật Thị Nở.
   + Hình thức: “Người đàn bà ngẩn ngơ như người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn”.
   + Tính cách: Thị là người dở hơi, suy nghĩ ngây ngô.
  - Chi tiết Bát cháo hành:
   + “Còn nóng nguyên, thơm ngon”.
  Bát cháo hành là biểu hiện của tình thương yêu, sự sẻ chia ở những người cùng cảnh ngộ.
  Bát cháo của Thị Nở tác động rất lớn đến tâm lí của Chí Phèo.
  Thị Nở chăm sóc Chí Phèo ân cần, chu đáo. Bề ngoài xấu xí nhưng bên trong Thị Nở có tâm hồn cao đẹp.
  - Diễn biến tâm lí của Chí Phèo khi tỉnh rượu.
   + Hắn ý thức được không gian và thời gian.
   + Hắn “Bâng khuâng và mơ hồ buồn”.
   + Lắng nghe những âm thanh của cuộc sống “Tiếng chim hót, tiếng cười nói, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo”.
  Đó là những âm thanh quen thuộc nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe được.
Những âm thanh đó trở thành tiếng gọi tha thiết của cuộc sống thôi thúc tâm trạng Chí Phèo.
  - Chí Phèo ý thức được bi kịch của đời hắn.
  - Hắn muốn làm người lương thiện.
  Tình thương của Thị Nở đã làm Chí Phèo có lại những cảm xúc của con người.
  - Bi kịch làm người của Chí Phèo.
  Chí Phèo muốn làm người lương thiện nhưng không được. Chí Phèo rơi vào bi kịch.
  Nguyên nhân:
  - Thị Nở không chấp nhận chung sống với Chí Phèo.
  - Dân làng Vũ Đại không công nhận Chí Phèo là người.
  Diễn biến của tấn bi kịch:
   + Dự định: Đến nhà Thị Nở.
   + Sau đó: Đến nhà Bá Kiến.
  Vì:- Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm.
  - Khi có lí trí, Chí Phèo ý thức được nguyên nhân khiến cho cuộc đời hắn bị tha hóa. Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh hóa.
  Kết quả:- Kẻ thù đền tội.
  - Chí Phèo tự kết liễu cuộc đời mình.
  Khi ý thức trỗi dậy, Chí Phèo phải kết liễu sự sống của mình. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về sự sống. Cái chết đó có ý nghĩa tố cáo sự tàn ác của chế độ phong kiến.
 2. Nhân vật Bá Kiến.
  - Nhiều vợ.
  - Nhiều đời làm lí trưởng, làm chánh tổng.
  - Thủ đoạn Bá Kiến dùng để bóc lột người nông dân:
   + “Mềm nắn rắn buông”.
   + “Lấy thằng đầu bò để trị thằng đầu bò”.
   + “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân”.
  - Giọng quát rất sang, cái cười Tào Tháo.
  Bá Kiến là kẻ độc ác. Là nhân vật điển hình cho giai cấp thống trị.
 3. Hình ảnh làng Vũ Đại.
  - Là làng quê nghèo, dân không quá hai nghìn người, xa phủ, xa tỉnh.
  - Làng Vũ Đại có đầy đủ các thành phần xã hội:
   + Giai cấp thống trị có: Bá Kiến, đội Tảo, Bát Tùng.
   + Hạn cùng đinh có: Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức.
  - Các giai cấp có mâu thuẫn gay gắt.
  Làng Vũ Đại nghèo đói, cơ cực. Là hình ảnh điển hình cho làng quê Việt Nam trước cách mạng.
C. Tổng kết.
 1. Nội dung.
  - Truyện diễn tả quá trình tha hóa của người nông dân trong xã hội phong kiến.
 2. Nghệ thuật.
  - Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
  - Diễn tả và phân tích diễn biến tâm lí nhân vật sâu sắc.
  - Ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu lạnh lùng, lối kể linh hoạt.

Chữ người tử tù- Bài ca về nhân cách con người.

hieuvanhiepduc | 05 December, 2011 15:27

alt 
Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn, là nghệ sĩ lớn. Ông khám phá vẻ đẹp trong vốn cổ của nền văn hóa dân tộc. 
Vang bóng một thời là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân. Tác phẩm gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng. Nhân vật chính trong tập truyện là những nhà nho cuối mùa. Họ bất lực trước thời cuộc nhưng quyết giữ tâm hồn trong sáng. Họ chạy trốn hiện thực bằng cách tìm đến các thú vui tao nhã như: Uống trà, thả thơ, chơi thư pháp, đánh cờ. Văn trong Vang bóng một thời giọng điệu khinh bạc, chữ nghĩa trau chuốt biểu đạt được các giá trị thẩm mĩ. Chữ người tử tù là tác phẩm in trong tập truyện này.
  Chữ người tử tù là truyện ngắn hay. Viết Chữ người tử tù Nguyễn Tuân thành công trong việc tạo tình huống truyện. Nguyễn Tuân tạo tình huống truyện đặc sắc. Câu chuyện bắt đầu khi Huấn Cao gặp quản ngục. Huấn Cao là người tù, là kẻ phản loạn, là nghệ sĩ viết chữ đẹp. Quản ngục là quan coi ngục, là người bảo vệ pháp luật, là kẻ say mê chơi chữ. Hai nhân vật này gặp nhau trong hoàn cảnh đặc biệt: Nhà tù. Giữa Huấn Cao và quản ngục có nhiều mối quan hệ. Xét về quan hệ xã hội họ đối nghịch nhau. Xét về lĩnh vực nghệ thuật họ là tri âm, tri kỉ. Các mối quan hệ đan xen, gay cấn. Tình huống truyện làm nổi bật tính cách nhân vật, thể hiện được chủ đề của tác phẩm.
 Chữ người tử tù chính là bài ca về nhân cách con người. Huấn Cao là hình tượng nghệ thuật được nhà văn xây dựng thành công. Nguyễn Tuân để nhân vật xuất hiện theo trình tự của sự việc. Trước khi Huấn Cao xuất hiện, quản ngục nói với thơ lại: “Huấn Cao? Hay cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”.
  Quản ngục biết được đặc điểm nét chữ của Huấn Cao: "Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh". Quản ngục còn biết được giá trị nét chữ của Huấn Cao: "Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời". Biết được giá trị nét chữ  chứng tỏ quản ngục am hiểu nghệ thuật thư pháp.
  Quản ngục tiếp tục nói với thầy thơ lại: “Thầy có nghe người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không?”.
Lời thơ lại: “Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà!”.
  Chưa xuất hiện mà mọi người đã biết. Chứng tỏ Huấn Cao là người có tài.
  Tâm trạng quản ngục khi nhận được phiến trát có tên Huấn Cao. Quản ngục nể tài của Huấn Cao, sợ Huấn Cao vượt ngục. Ông suy tư, muốn biệt đãi Huấn Cao nhưng sợ thơ lại tố giác với quan trên.
  Những cảm xúc đó chứng tỏ quản ngục là người có tâm hồn, có nhân cách. Diễn tả vẻ đẹp nhân cách của quản ngục Nguyễn Tuân viết: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Quản ngục băn khoăn về thơ lại nhưng trong tâm trí quản ngục đã xác định được tính cách của con người này: “Một kẻ biết mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẵn không phải là kẻ xấu hay vô tình”.
  Con người chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh. Nam Cao viết một cách chân thực: “Sống với người tồi chính mình cũng tồi”. Bằng giọng điệu khinh bạc, Nguyễn Tuân nhận xét: “Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Quản Ngục sống nơi tăm tối mà không chịu ảnh hưởng của cái xấu nghĩ cũng lạ.
 Huấn Cao bị giải đến trước cửa nhà lao: "Sáu phạm nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước. Cái thang ấy đặt lên trên sáu bộ vai gầy. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn, nếu đem bắc lên mỏ cân, có thể nặng đến bảy, tám tạ". Trong sáu tên tử tù vừa được lính tỉnh giải đến, Huấn Cao là người đứng đầu gông. Trước cửa nhà lao, Huấn Cao chủ động dỗ gông trừ rệp: "Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi", "Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen".
  Huấn Cao không bận tâm đến lời trêu chọc, lời quát nạt của bọn lính áp giải.
  Trước cửa nhà lao cũng như trước ngưỡng của cái chết, Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang, vẫn giữ được thái độ lạnh lùng, khinh bạc. Huấn Cao đúng là người có tài.
  Quản ngục tận mắt chứng kiến khí phách hiên ngang, thái độ lạnh lùng của Huấn Cao. Nên y nhìn sáu tên tù với cặp mắt hiền lành, thái độ kiêng nể. Đặc biệt, quản ngục có cái nhìn biệt nhỡn riêng đối với Huấn Cao.
  Sống trong hoàn cảnh xấu, quản ngục có được thái độ trân trọng cái đẹp chứng tỏ ông là người tốt.
  Suốt nửa tháng ở trong tù, Huấn Cao "Điềm nhiên nhận rượu thịt". Khi ở tù Huấn Cao vẫn giữ được thái độ điềm nhiên, lạnh lùng. Quản ngục mở khóa buồng kín, khép nép hỏi Huấn Cao:
"Đối với những người như ngài phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần gì thêm nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất".
 Huấn Cao trả lời quản ngục cố ý làm ra vẻ khinh bạc: "Người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là ngươi đừng đặt chân vào đây". Huấn Cao trả lời quản ngục mà như ra lệnh.
  Hoàn cảnh xấu không làm cho tính cách Huấn Cao thay đổi. Ông coi thường cái chết, coi thường cái xấu. Huấn Cao đúng là bậc anh hùng.
  Khi nói những lời đó, Huấn Cao chờ đợi sự nổi giận của quản ngục. Thế nhưng trước sự khinh bạc của Huấn Cao, thái độ quản ngục vẫn không thay đổi. Y lễ phép lui ra với một câu:“Xin lĩnh ý”. Vì thiết tha muốn có cái đẹp mà quản ngục đã nhẫn nhịn. Điều khiến Huấn Cao ngạc nhiên là quản ngục không nổi giận mà ngược lại“Cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước”. Cuộc sống dường như có sự sắp xếp, sự cao thượng đã gặp sự cao thượng. Nếu hành động của Huấn Cao gặp phải mấy tên lính áp giải chắc tính mạng ông khó bảo toàn. Quản ngục mong ước ông Huấn dịu bớt tính nết để xin chữ: "Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho... mấy chữ".
  Quản ngục là người có tâm hồn cao thượng, là nghệ sĩ biết thưởng thức cái đẹp. Viết Chữ người tử tù ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân tập trung diễn tả cảnh cho chữ. Khi hiểu được tâm sự quản ngục, Huấn Cao chấp nhận cho chữ. Huấn Cao đã nói với thơ lại "Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Lời nói đó chứng tỏ Huấn Cao rất coi trọng tình nghĩa. Cảnh cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Sự việc đó diễn ra vào lúc đêm khuya, tại buồng giam, chật chội, ẩm ướt. Người cho chữ là người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, ngày mai phải lĩnh án chém. Người xin chữ là quản ngục. “Người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”. Người tù dồn hết tài hoa khí phách vào tùng nét chữ. Đó là những dòng chữ cuối cùng của cuộc đời một con người tài hoa. "Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng"Thơ lại:“Gầy gò run run bưng chậu mực”. "Khúm núm", "Run run" là thái độ trân trọng của con người trước cái đẹp.
  Trật tự trong tù có sự thay đổi. Người tù trở thành kẻ ban phát cái đẹp. Quản ngục thì vái lạy tù nhân. Chi tiết đó có ý nghĩa diễn tả sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Sự chiến thắng của cái tốt đối với cái xấu. Sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác.
Sau khi cho chữ, Huấn Cao đã khuyên quản ngục. Lời khuyên của Huấn Cao:
“Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên thay đổi chỗ ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”, "Thầy quản nên tìm về quê nhà mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ".
  Quản ngục "Cảm động, vái tù nhân một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẻ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Quản ngục nghe theo lời khuyên của Huấn Cao. Chi tiết này có ý nghĩa khẳng định: Cái đẹp có thể cảm hóa được con người. 
  Huấn Cao là người có chí lớn. Ông khởi nghĩa chống lại triều đình. Việc lớn thành công sẽ đem lạ lợi ích cho nhiều người. Chí lớn không thành, bị giam trong tù. Bị giam cầm, không thể dùng sức mạnh thể lực để mang lại sự thay đổi cho con người. Huấn Cao dùng sức mạnh của trí tuệ, dùng sức mạnh của nhân cách để thay đổi hoàn cảnh sống. Không mang lại được sự đổi thay cho nhiều người, Huấn Cao mang lại sự đổi thay cho một người. Sự đổi thay Huấn Cao mang đến sẽ làm cho cuộc sống của quản ngục tốt hơn. Huấn Cao đã sống cuộc đời có ý nghĩa.
  Huấn Cao và quản ngục ở hai vị trí đối lập nhau. Họ gặp nhau ở niềm đam mê cái đẹp. Nét chữ của Huấn Cao chính là biểu tượng của cái đẹp. Đó là cái đẹp về nhân cách. Cái đẹp của tâm hồn. Cái đẹp của trí tuệ. Cái đẹp của khí phách, của bản lĩnh người anh hùng. Cái đẹp đó đã cảm hóa được con người. Truyện đề cao cái đẹp. Văn học phản ánh cuộc sống. Cuộc sống vốn đa dạng. Có ý kiến phản biện cho rằng: Quản ngục là kẻ xấu. Quản ngục là kẻ dối trá, lừa lọc. Quản ngục chỉ biết sống vì mình không phải là người tri âm, tri kỉ như lời của Huấn Cao. Ý kiến đó căn cứ vào tình tiết Huấn Cao cho chữ. Khi Huấn Cao cho chữ, quản ngục không mở gông, không cởi xiềng cho Huấn Cao. Vì sao quản ngục không mở gông, không cởi xiềng cho Huấn Cao trong khi quản ngục có thể làm được việc đó? Có thể quản ngục sợ cái tài "Bẻ khóa và vượt ngục" của Huấn Cao. Quản ngục muốn có được nét chữ. Nhưng ông chưa tin ở con người Huấn Cao. Huấn Cao là người có tài, có tâm. Người có tài, có tâm sẽ không làm liên lụy người khác. Quản ngục chưa nghĩ tới điều đó. Nếu như đã nghĩ tới điều đó, quản ngục mở gông, cởi xiềng Huấn Cao cũng không vượt ngục. 
  Giả sử quản ngục là người có tâm địa xấu xa. Gặp Huấn Cao, quản ngục xin được chữ của Huấn Cao. Quản ngục đã lừa được Huấn Cao. Nếu biết được điều đó, có thể Huấn Cao không buồn. Vì khi có được cái chữ, quản ngục đã quyết thay đổi hoàn cảnh sống. Kẻ xấu được cảm hóa thành người tốt. Việc làm đó thể hiện rõ nhất tài năng của người anh hùng. Huấn Cao có thể vui lòng nhìn thấy sự nổi loạn của cái đẹp trong chốn ngục tù. Vui lòng khi thấy nhân cách của mình chinh phục được cái xấu. 
  Văn học phản ánh cuộc sống. Trong cuộc sống có người không am hiểu nghệ thuật nhưng lại sở hữu những tác phẩm có giá trị. Có người không am hiểu thơ lại bình rất nhiều bài thơ. Có đại gia bỏ ra tiền tỉ để mua cây cảnh, mua tranh Picassô. Nhiều người mua tác phẩm nghệ thuật không phải để thưởng thức. Kiến thức nông cạn làm sao thưởng thức được ý nghĩa cao siêu của nghệ thuật. Cuộc sống hiện đại, con người mua cây cảnh, mua tranh, mua chữ thư pháp, mục đích chính để thể hiện đẳng cấp về sự giàu sang. Hoặc làm quà tặng lót đường để thăng quan tiến chức. Bất hạnh thay cho cái đẹp lỡ rơi vào tay những con người như vậy. 
  Viết Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân mong ước người sáng tạo ra cái đẹp cần có cái tâm, cái tầm. Người thưởng thức nghệ thuật cũng cần phải có tầm, có tâm. Như vậy, cái đẹp mới có ý nghĩa đối với cuộc sống.
(Hiệp Đức, tháng 12 năm 2011)
NVH.

1 2 3 4  Sau»